intTypePromotion=1
zunia.vn Tuyển sinh 2024 dành cho Gen-Z zunia.vn zunia.vn
ADSENSE

Bài 8: Biểu hiện vùng miệng của nhiễm HIV ở người trưởng thành - BS. Huỳnh Anh Lan

Chia sẻ: Pham Xuan Giang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:12

59
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài 8 Biểu hiện vùng miệng của nhiễm HIV ở người trưởng thành do BS. Huỳnh Anh Lan biên soạn nhằm giúp các bạn nắm được: biểu hiện miệng có liên quan với nhiễm HIV – AIDS, đặc điểm lâm sàng của những biểu hiện có liên quan mật thiết với nhiễm HIV, ý nghĩa của những biểu hiện này trong chẩn đoán, điều trị và tiên lượng đối với người nhiễm HIV-AIDS.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài 8: Biểu hiện vùng miệng của nhiễm HIV ở người trưởng thành - BS. Huỳnh Anh Lan

  1. Bài 8 BIỂU HIỆN VÙNG MIỆNG CỦA NHIỄM HIV Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH BS Huỳnh Anh Lan Mục tiêu :  1. Kể được những biểu hiện miệng có liên quan với nhiễm HIV – AIDS 2. Mô tả đặc điểm lâm sàng của những biểu hiện có liên quan mật thiết với  nhiễm HIV. 3. Hiểu được ý nghĩa của những biểu hiện này trong chẩn đoán, điều trị và  tiên lượng  đối với người nhiễm HIV­AIDS. MỞ BÀI Có rất nhiều biểu hiện vùng miệng của nhiễm HIV ở người trưởng thành  đã được ghi nhận. Một số những biểu hiện này đã được để  ý rất sớm vào lúc   dịch bệnh mới được phát hiện ở  những người đồng tính luyến ái. Những biểu   hiện này thường dễ thấy và có thể chẩn đoán chính xác dù chỉ dựa trên các dấu   chứng lâm sàng. Do đó trong những trường hợp nghi ngờ  tình trạng nhiễm  ở  bệnh nhân mà không thể  kiểm chứng được bằng thử  nghiệm huyết thanh học   thì các biểu hiện vùng miệng có thể  cung cấp thêm chứng cứ  về  tình trạng  nhiễm HIV.  Ngoài ra sự  xuất hiện của các biểu hiện miệng cũng có thể  giúp để  tiên  lượng sự  diễn biến đến giai đoạn AIDS. Các biểu hiện này liên hệ  mật thiết  với tình trạng suy giảm miễn nhiễm, biểu hiện qua sự giảm số tế bào lymphô  CD4, và có mối liên quan yếu hơn với gánh nặng virus. Do đó các tổn thương   miệng thường được xem là những marker cho sự  nhiễm virus huyết và sự  suy   giảm dần hệ thống miễn nhiễm đi đôi với sự tiến triển của bệnh.  Chính vì vậy mà hầu như  tất cả  các biểu hiện miệng đều có mặt trong   các hệ  thống hiện đang áp dụng để  phân loại và tiên lượng bệnh nhiễm HIV.   Những điều này nói lên yêu cầu cần khám kỹ  lưỡng vùng miệng  ở  mọi giai  đoạn bệnh, chẩn đoán và xử  lý các tổn thương miệng  ở  bệnh nhân đã nhiễm  HIV và  ở  những người có nguy cơ  nhiễm trong tất cả các chương trình phòng   bệnh và can thiệp đối với nhiễm HIV. Các biểu hiện miệng còn được dùng để  theo dõi bệnh nhân trong các thử nghiệm về dự phòng, điều trị và vaccine. 1
  2. 1­ PHÂN LOẠI CÁC TỔN THƯƠNG MIỆNG Có hơn 30 tổn thương miệng có liên quan đến nhiễm HIV. Năm 1992 phân  loại sau đây đã được thống nhất sau một cuộc họp về  biểu hiện vùng miệng  của HIV tại London : Nhóm 1 : Các tổn thương liên quan mật thiết với nhiễm HIV Nhiễm candida : dạng ban đỏ, dạng màng giả Bạch sản tóc Kaposi sarcoma Bệnh nha chu : ban đỏ vùng nướu viền, viêm nướu lở loét hoại tử, viêm  nha chu lở loét hoại tử. Nhóm 2 : Các tổn thương liên quan với nhiễm HIV Nhiễm vi khuẩn : Mycobacterium avium ­cellulare, M. Tuberculosis Nhiễm sắc melanin Viêm miệng lở loét hoại tử Bệnh tuyến nước bọt : khô miệng, phì đại tuyến nước bọt một hay 2 bên Ban xuất huyết giảm tiểu cầu Loét Nhiễm virus : herpes simplex, HPV (condyloma acuminata, focal epithelial   hyperplasia, verruca vulgaris) Nhóm 3 : Các tổn thương có thể gặp ở người nhiễm HIV Nhiễm   vi   khuẩn   :   Actinomyces     israeli,   Escherichia   coli,   Klebsiella   pneumoniae Bệnh mèo quào Phản ứng thuốc Tăng tế bào dạng biểu mô ở thành mạch máu Nhiễn   nấm   ngoài   candida   :   Crypyococcus   neoformans,   Geotrichum  candidum, Histoplasma capsulatum, Aspergillus flavus Rối loạn thần kinh : liệt mặt, đau dây thần kinh tam thoa Viêm miệng áp tơ tái phát Nhiễm virus : cytomegalovirus, molluscum contagiosum 2
  3. 2­ Ý NGHĨA CỦA CÁC BIỂU HIỆN MIỆNG 2.1­ Tổn thương miệng trong các hệ thống phân giai đoạn và phân loại Sự  hiện diện của tổn thương miệng nhất là Oral Candidiasis, Oral Hairy   Leukoplakia, Herpes zoster và Herpes simplex nhiễm dai dẳng đều được đề cập   đến trong hệ thống giám sát đối với nhiễm HIV. TCSKTG cũng cho là các biểu  hiện miệng là tiêu chuẩn quan trọng và có giá trị tiên lượng cao. Đặc biệt OC và OHL được cho là dấu hiệu của AIDS khi không thể  làm   các xét nghiệm huyết thanh hay đếm số tế bào lym phô T. 2.2­ Tổn thương miệng được xem là dấu chứng lâm sàng sớm của nhiễm   HIV. OC là nhiễm cơ hội thường gặp nhất ở Thái Lan và các nước khác, xảy ra   trên hơn 90% người nhiễm trong giai đoạn chuyển tiếp từ  lúc không có dấu  chứng lâm sàng đến AIDS. OC xảy ra ở người nhiễm HIV/AIDS chủ yếu do sự  mất khả năng đề kháng của ký chủ OC và OHL là những dấu hiệu sớm của bệnh nhiễm HIV. Các nghiên cứu   theo dõi bệnh nhân từ lúc có sự chuyển đổi huyết thanh cho thấy một trong hai   tổn thương này xuất hiện trong vòng 1 năm  ở  10% Bn và trong vòng 5 năm  ở  50% Bn. 2.3­ Các tổn thương miệng cho phép tiên đoán diễn biến của bệnh nhiễm   HIV Mối liên hệ giữa OC dạng màng giả và sự phát triển sang giai đoạn AIDS  đã được xác minh. Một mối liên hệ tương tự cũng được tìm giữa OHL và AIDS.  Nhiều nghiên cứu đã xác định giá trị  tiên đoán cao của OC, OHL và một số tổn   thương miệng khác đối với diễn tiến của bệnh nhiễm HIV. OC dạng ban đỏ có  giá trị ngang với OC dạng màng giả mặc dù ít được chú ý tới hơn. Một nghiên cứu trên 3 nhóm ở San Francisco cho thấy khi OC hay OHL có   ở  lần khám đầu tiên thì AIDS đến sớm hơn với những bệnh nhân đó. Một  nghiên cứu của Palmer  ở  London cho thấy 80% bệnh nhân AIDS có biểu hiện  so với 50% bệnh nhân nhiễm HIV (chưa AIDS).  Câu hỏi cần đặt ra là cơ  chế  suy giảm miễn dịch như  thế nào  ở  niêm mạc miệng đã cho phép có sự  nhiễm  cơ hội, sự hoạt hóa hay lan tràn của vi nấm hay virus dẫn đến sự xuất hiện tổn  thương miệng. Một vài nghiên cứu đã kết luận đó là do sự khiếm khuyết trong   xử lý kháng nguyên của các tế bào Langerhans. 2.4­ Các tổn thương miệng và chỉ  định trị  liệu chống HIV và trị  liệu dự   phòng chống các nhiễm trùng cơ hội. 3
  4. Sự  hiện diện của OC và OHL thường được xem là chỉ  định để  áp dụng  phác đồ  điều trị  chống retrovirus và điều trị  dự  phòng các bệnh nhiễm cơ  hội   khác. Thí dụ như, vì OC liên quan mật thiết với nhiễm Pneumocystis carinii nên   khi thấy OC vùng miệng thì cần điều trị  dự phòng viêm phổi do PC. Cũng như  vậy lao phổi thường đi đôi với OC  ở  người Thái. Nhiễm tái phát OC và OHL   được xem là những chỉ định để khởi phát điều trị chống retrovirus. 2.5­ Tổn thương miệng là những marker cho phép tiên đoán diễn biến của   nhiễm HIV Giá trị  tiên lượng của các tổn thương miệng đã được xác định qua các   nghiên cứu học, trên nhiều cohort ở các nước và đều kết luận là OC và OHL có   liên quan chặt chẽ với sự suy giảm miễn dịch biểu hiện là số tế bào CD4 giảm  xuống dưới 200 / mm³ và tỉ  lệ  nghịch với kháng thể  kháng p24 trong huyết  thanh. 3­ TỈ LỆ TOÀN BỘ CỦA CÁC TỔN THƯƠNG MIỆNG Tỉ  lệ  này thay đổi rất nhiều tùy theo các nghiên cứu do cách chọn mẫu,   phân loại và cách phát hiện tổn thương ... (xem bảng) Trong một số nghiên cứu OC là tổn thương thường gặp nhất, nhưng một   số  nghiên cứu lại cho là OHL. Điều này có thể  vì  ở  các nước đang phát triển  còn ít dùng các thuốc chống nấm. Ngoài ra vì hiện nay ở một số nước phát triển   đã áp dụng phương thức điều trị  tích cực chống retrovirus (Highly Active Anti   Retroviral Therapy) nên có những khác biệt nêu trên. Đối với OC có khi dạng màng giả được ghi nhận nhiều hơn dạng ban đỏ.  Khác với dạng màng giả, dạng ban đỏ  không có liên quan với giai đoạn nhiễm   HIV. Không có sự thống nhất trong các kết quả nghiên cứu về vấn đề này. Điều đáng ngạc nhiên là các nghiên cứu ở châu Á không ghi nhận sự hiện  diện của Kaposi sarcoma, ở Thái Lan chỉ có trong khi ở Phi châu tổn thương này   được ghi nhận mặc dù cách lây nhiễm HIV cũng tương tự  như   ở  châu Á có  nghĩa là chủ  yếu qua đường quan hệ  tình dục khác phái. Kaposi sarcoma thấy   nhiều nhất ở phương tây trong giới đồng tính luyến ái. Cho đến nay các nghiên cứu về  tổn thương miệng liên quan với HIV  ở  châu Á còn rất ít, có lẽ  các tổn thương này cũng có những đặc điểm liên quan  đến chủng tộc và địa dư và do chưa có điều kiện điều trị HAART. 4­   CÁC   YẾU   TỐ   CÓ   THỂ   ẢNH   HƯỞNG   ĐẾN   BIỂU   HIỆN   MIỆNG  NHIỄM HIV 4.1­ Chủng tộc 4
  5. Có những nghiên cứu cho rằng có sự  khác biệt về  sự  mất bám dính trong  bệnh nha chu giữa người da đen và người da trắng hay da trắng có nhiều biểu  hiện vùng miệng hơn v.V... nhưng sự khác biệt hầu như không có ý nghĩa. 4.2­ Giới tính Các nghiên cứu thường cho thấy một tỉ lệ cao hơn các tổn thương miệng   ở  phái nam, đặc biệt OHL có nhiều hơn  ở  phái nam. Điều này có thể  do nam   thường bao gồm những người đồng tính luyến ái. 4.3­ Cách lây nhiễm HIV Một số  nghiên cứu cho thấy có sự  khác biệt về  tỉ  lệ  tổn thương miệng   giữa những người bị lây nhiễm bằng đường quan hệ tình dục với những người   bị lây qua đường truyền máu, qua đường tiêm chích ma túy, giữa những quan hệ  tình dục cùng phái và khác phái... tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có cách giải  thích thỏa đáng về các vấn đề  này, ngoại trừ là sự  khác biệt về hành vi có thể  giữ vai trò đối với sự xuất hiện các tổn thương miệng. 4.4­ Các yếu tố nguy cơ liên quan với sự xuất hiện các tổn thương miệng Nghiên cứu  ở Thái lan cho thấy tổn thương miệng có liên quan với diễn   tiến của bệnh (biểu hiện qua các dấu hiệu lâm sàng và số  tế  bào lymphô T4),  uống rượu, hút thuốc, vệ sinh răng miệng kém và một số yếu tố khác. 4.5­ Suy giảm miễn dịch Tỉ lệ tổn thương miệng tăng với sự suy giảm miễn dịch. Ơ các nước đang   phát triển khó có điều kiện đếm số tế bào CD4 thì có thể suy ra số này từ tổng   số  tế  bào lymphô. (Khi tổng số  tb lymphô xuống thấp từ  1000 – 2000 và khi  dưới 1000/mm³ thì tương đương với số  tb CD4 xuống thấp từ  200 – 500 và  dưới 200/mm³). 4.6­ Rượu Một nghiên cứu cho thấy là tỉ lệ OC, nhất là OC dạng ban đỏ tăng ở người   uống hơn 8,5 1 cồn tuyệt đối/ năm. Cồn có khả  năng làm teo và mất tính phân  tầng của biểu mô niêm mạc miệng, giúp cho nấm candida dễ thâm nhiễm vào   và gây tổn thương dạng teo. OHL và các tổn thương trắng ít liên quan với uống   rượu, các thụ thể cho EBV trên biểu mô chủ yếu tùy thuộc vào mức độ biệt hóa   của biểu mô. 4.7­ Hút thuốc Đa số nghiên cứu cho thấy tổn thương miệng của OC và OHL xảy ra sớm  hơn ở người hút thuốc. Ngược lại người hút thuốc ít bị áp tơ hơn. 4.8­ Tuổi 5
  6. Hình như  tổn thương miệng thường gặp hơn  ở những bệnh nhân trên 30  tuổi 4.9­ Dùng thuốc Nhiều  loại thuốc  uống  có   thể   ảnh hưởng  đến việc   xuất hiện  các   tổn  thương miệng. Các thuốc chống virus và kháng sinh có tác dụng làm tăng các  biểu hiện  miệng. Thuốc kháng nấm có thể có tác dụng tăng hay giảm nguy cơ  nhiễm nấm tùy từng nghiên cứu. Ngoài ra dùng thuốc chống trầm cảm có tác   dụng làm giảm tiết nước bọt và dễ nhiễm nấm candida dạng ban đỏ. 4.10­ HAART Các biện pháp phối hợp nhiều thuốc chống retrovirus và điều trị  dự phòng  các nhiễm trùng cơ  hội đã làm tăng sức đề  kháng, giảm tỉ  lệ  các biểu hiện   miệng của nhiễm HIV trừ đối với nhiễm HPV. Các nghiên cứu cho thấy tỉ  lệ  các biểu hiện miệng giảm từ  47% xuống  37% khi dùng liệu pháp tích cực chống Retrovirus, OHL, OC, KS và các bệnh  nướu và nha chu đều giảm trong khi bệnh tuyến nước bọt và nhiễm HPV tăng. BIỂU HIỆN VÙNG MIỆNG CỦA NHIỄM HIV – AIDS 1­ PHÂN LOẠI Năm 1996 – Cộng đồng kinh tế  châu Âu công bố  bảng phân loại của các  biểu hiện vùng miệng của bệnh nhiễm HIV 1.1­ NHIỄM NẤM ¤ Nhiễm Candida (dạng màng giả, dạng ban đỏ, dạng tân sinh, chóc mép) ¤ Nhiễm Histoplasma ¤ Nhiễm Crytococcus ¤ Nhiễm Geotrichosis 1.2­ NHIỄM KHUẨN ¤ Viêm nướu hoại tử – HIV  ¤ Viêm nướu – HIV ¤ Viêm nha chu – HIV 1.3­   DO  MYCOBACTERIUM  AVIUM  INTRACELLULARE,   KLEBSIELLA  PNEUMONIAE,   ENTEROBACTERIUM CLOACAE, E. COLI ¤ Actinomycosis 6
  7. ¤ Bệnh mèo quào ¤ Viêm xoang ¤ Cơn kịch phát của nhiễm chóp răng ¤ Viêm mô tế bào dưới hàm 1.4­ NHIỄM VIRUS ¤ Herpes Simplex Virus ¤ Cytomegalo virus ¤ Epstein Bar virus : Bạch sản tóc ¤ Varicella – Zona virus : Herpes Zoster ; Varicella ¤ Human papilloma virus : Verruca vulgaris; Condyloma accuminata; Focal  epithelial hyperplasia 1.5­ TÂN SINH ¤ Kaposi sarcoma ¤ Carcinoma tế bào vẩy ¤ Lymphoma không Hodgkin 1.6­ RỐI LOẠN THẦN KINH ¤ Bệnh dây thần kinh tam thoa ¤ Liệt mặt 1.7­ KHÔNG RÕ NGUYÊN NHÂN ¤ Loét aphte tái phát ¤ Thiếu tiểu cấu nguyên phát ¤ Khô miệng   ¤ Loét hoại tử tuần tự ¤ Tiêu biểu mô do ngộ độc ¤ Chậm lành thương ¤ Phì đại tuyến nước bọt ¤ Tăng nhiễm sắc Melanin 2­ NHIỄM NẤM CƠ HỘI 2.1­ Nhiễm Candida :  Ngay từ  những báo cáo đầu tiên năm 1981 về  hội chứng AIDS đã có đề  cập đến nhiễm Candida vùng miệng. Tuy nhiên, vào lúc đó hầu như mọi trường   hợp đều ở dạng màng giả. Sau này các dạng khác như : màng giả, ban đỏ, tăng  sinh và chóc mép đều được mô tả  với những tỉ  lệ  khác nhau  ở  người huyết  thanh dương tính, bị ARC và bị AIDS. 2.1.1­ Nhiễm candida dạng màng giả : 7
  8. Có sự  hiện diện của những mảng trắng hay vàng trên một niêm mạc đỏ  hay bình thường. Khi cạo, mảng trắng tróc ra để  lại một bề mặt ướm máu. Vị  trí thường gặp ở khẩu cái, niêm mạc má, môi và lưng lưỡi. 2.1.2­ Nhiễm candida dạng tăng sinh :  Đặc trưng là những mảng trắng không thể  cạo đi được. Vị  trí thường là   niêm mạc má, ngược với khóe mép là vị trí thường gặp ở những người không bị  nhiễm HIV 2.1.3­ Nhiễm candida dạng ban đỏ hay dạng teo  Biểu hiện dưới dạng tổn thương màu đỏ  sậm nổi bật hay rất kín đáo. Vị  trí thường gặp ở khẩu cái, lưng lưỡi (làm mất gai lưỡi) tương tự như lai nhiễm   nhiều ổ ở những bệnh nhân hút thuốc nhiều, dạng nhiễm này tuy rất đặc trưng  của nhiễm HIV nhưng thường bị bỏ qua vì ít gây triệu chứng lâm sàng làm cho   bệnh nhân khó chịu. 2.1.4­ Nhiễm candida dạng chóc mép  Xảy ra khi bệnh nhân  ở vào tuổi trung niên không có các yếu tố bệnh căn  thông thường như  thiếu máu, thiếu vitamin, mất kích thước dọc thì phải gợi ý  đến tình trạng nhiễm HIV.  Tỉ  lệ  những người nhiễm HIV có kèm nhiễm nấm candida thay đổi rất   nhiều tùy theo tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm nấm và mẫu điều tra (vào khoảng   66%). Nhiễm nấm candida được nghiên cứu như  một dấu hiệu báo trước sự  chuyển sang giai đoạn AIDS, đặc biệt là nhiễm candida dưới dạng màng giả. Klein so sánh 22 bệnh nhân bị hạch toàn thân, tỉ lệ T4/T8 đảo ngược, đồng   thời bị  nhiễm candida dạng màng giả, với 20 bệnh nhân ở  tình trạng tương tự  nhưng không bị nhiễm candida. Theo dõi trong 3 tháng thấy nhóm thứ  nhất 59%   chuyển sang giai đoạn AIDS với những nhiễm trùng cơ  hội nặng, hoặc sarcom  Kaposi trong khi nhóm thứ nhì không có người nào chuyển sang AIDS. Như  vậy có thể  kết luận là một sự  suy giảm số  tế  bào Lympho T4 cùng   với sự  nhiễm nấm candida là một dấu hiệu tiên lượng xấu, báo trước cho sự  xuất hiện AIDS ở bệnh  nhân nhiễm HIV. 2.2­ Nhiễm Histoplasma :  Histoplasma   capsulatum  là  một   nấm  sống  trong  đất,  không  gây bệnh  ở  người bình thường mặc dù có gây phản ứng miễn dịch. Ơ bệnh suy giảm miễn   dịch, nấm gây bệnh lan tỏa hoặc khu trú, với triệu chứng sốt kéo dài, sụt cân và   triệu chứng ở phổi, đồng thời có thể gây tổn thương ở da và miệng. 2.3­ Nhiễm Crytococcus, Geotricum candidum :  8
  9. Là những nhiễm nấm cơ  hội  ở  bệnh nhân nhiễm HIV giai đoạn AIDS,   nhưng tương đối hiếm gặp. 3­ NHIỄM KHUẨN CƠ HỘI 3.1­ Bệnh nha chu :  Bệnh nha chu liên quan đến nhiễm HIV thường có những biểu hiện trầm  trọng hơn bệnh nha chu thông thường, đáp  ứng kém hơn với điều trị  cổ  điển,  tiến triển nhanh hơn, gây mất xương và lộ chân răng nhiều hơn. 3.1.1­ Viêm nướu :  Dấu hiệu thường là một đường viền đỏ ở nướu với những điểm viêm đỏ  ở niêm mạc xương ổ, và nướu dễ chảy máu dù vệ  sinh răng miệng tốt và ít có  tích tụ mảng bám. Các điểm viêm đỏ  có thể do sự bội nhiễm Candida. Đôi khi   thấy gai nướu sưng phồng ở vài điểm. 3.1.2­ Nha chu viêm :  Mô nha chu bị  tiêu hủy nhanh chóng, đau nhức nhiều, răng lung lay. Trái   với bệnh nha chu thông thường, có sự tiêu mất các mô nâng đỡ nhưng túi không  sâu. Có thể kèm viêm nướu lở loét hoại tử. 3.1.3­ Viêm nướu lở loét hoại tử : ANUG  Thường chỉ  thấy  ở  trẻ  suy dinh dưỡng, hay bị các bệnh làm suy giảm hệ  thống miễn dịch. Ơ người trướng thành bị nhiễm HIV cũng dễ thấy ANUG.  Các vi khuẩn gây bệnh ,  ngoài một số vi khuẩn thường gặp trong các bệnh   nha chu, còn có một số  vi khuẩn kỵ  khí có độc tính rất cao như  : Eikenella,   Wollinella, Bacteroides, do tình trạng nhiễm HIV tạo những điều kiện thuận lợi   tạp khuẩn trong khe nướu chuyển đổi sang các giống vi khuẩn có tính gây bệnh  mạnh hơn. Thường các bệnh nhân bị nha chu viêm có hệ số T4/T8 thấp hơn các  bệnh nhân bị  viêm nướu, đồng thời có sự  khiếm khuyết của chức năng bạch  cầu đa nhân. Điều trị  : các dạng bệnh nha chu  ở người nhiễm HIV phải được điều trị  bằng biện pháp vệ  sinh răng miệng kỹ  lưỡng, có thêm biện pháp rữa các tổn   thương với Betadine 10% và súc miệng hàng ngày với 0,1 – 0,2 chlorhexidine   gluconate cho đến khi khỏi bệnh. Bệnh nhân bị  đau và có tổn thương  cấp tính   phải được điều trị kháng sinh chống vi khuẩn yếm khí gram âm. Nhiễm khuẩn Lao : nhiễm khuẩn Lao (Mycobacterium tuberculosis) tăng một  cách đáng kể ở người  nhiễm HIV. Tổn thương do Lao trong miệng có thể xuất   hiện như một vết loét ở lưỡi. 3.2­ Nhiễm Mycobacterium avium cellulare (MAI)  9
  10. Gây nhiễm trùng phổi, trong miệng có thể  tạo vết loét có phản  ứng viêm  hạt và hoại tử xương. 3.3­ Nhiễm Klebsiella pneumoniae và Enterobacterium cloacae  Có thể gây viêm loét ở lưỡi, khẩu cái. 4­ NHIỄM VIRUS CƠ HỘI 4.1 Herpes Simplex :  Ơ  bệnh nhân nhiễm HIV, viêm miệng Herpes xảy ra với tỉ lệ 5­13%, gây  tổn thương trầm trọng và lan tỏa hơn là  ở  người không nhiễm HIV, bệnh dai   dẳng, khó điều trị dứt điểm và dễ tái phát. Điều trị : Acyclovir. 4.2­ Varicella Zoster virus : Nhiễm VZV có thể  xem như  một triệu chứng sớm của nhiễm HIV, một   bệnh nhân HIV bị  nhiễm virus VZ có 23% bị  AIDS sau 2 năm và 46% bị  AIDS  sau 4 năm. Điều trị : Acyclovir. 4.3­ Human papilloma Virus (HPV)  Nhiễm HIV có vẻ  làm cho dễ  nhiễm HPV vùng miệng với những type  HPV ít gặp như  type 13, 18, 32 và gây tổn thương phần mềm như  papilloma,  verruca, condyloma, focal epithelial hyperplasia, carcinoma. 4.4­ Bạch sản tóc : (Hairy Leucoplakia)  HL được mô tả  đầu tiên vào cuối năm 1981 ở San Francisco, sau đó được   ghi nhận khá phổ biến ở bệnh nhân nhiễm HIV ở nhiều nước.  Đó là một tổn thương thường gặp ở bệnh nhân đang ở giai đoạn muộn của  nhiễm HIV và AIDS dưới dạng một mảng màu trắng, thường thấy ở hông lưỡi,  ở cả hai bên. Bề mặt có nếp xếp giống như tóc, có khi có bề mặt phẳng, nhẵn   láng. Vị  trí thường gặp ở  hông lưỡi, bụng lưỡi và ít gặp ở  niêm mạc má, môi,  sàn miệng, khẩu cái mềm,yết hầu. Có khi tổn thương gây đau rát do bội nhiễm   candida.  Hình  ảnh mô học cho thấy sự  tăng sinh lớp gai và lớp sừng, làm cho lớp  biểu mô dày lên và có khi dong ra tạo những nếp xếp hình sợi tóc. Trong lớp   biểu mô thấy có những tế bào phình to hơi giống các koilocyte của nhiễm HPV. Tuy nhiên các nghiên cứu labo không cho phép phát hiện HPV mà lại là   Epstein – Bar virus (EBV) trong các tổn thương này. Hiện nay có 2 giả  thuyết  để  thử  giải thích tại sao EBV bội nhiễm trên HIV, hoặc là do nhiễm HIV làm  mất tế  bào Lanerhans khiến cho EBV có sẵn tại chỗ  được hoạt hóa hoặc thụ  thể EBV trên tế bào hong lưỡi bị lộ tối đa khi nhiễm HIV, cho nên dễ gắn virus  EBV.  10
  11. Bạch sản tóc là một tổn thương được xem là đặc trưng nhất của nhiễm   HIV vùng miệng và cho phép tiên đoán sự  tiến gần đến giai đoạn AISD   tuy  nhiên cần phải chẩn đoán sai biệt với một số tổn thương trắng khác. Điều trị  :  AZT. 5­ TÂN SINH Có 3 loại tân sinh có ghi nhận liên quan đến nhiễm HIV. Những tân sinh   này, hoặc là do tác nhân sinh ung, virus sinh ung làm cho ung thư xảy ra ở người   suy giảm miễn dịch, hoặc là do một cơ chế gây bệnh nào khác của HIV. 5.1­ Sarcom Kaposi Năm 1872, Moritz Kaposi mô tả một loại bướu gọi là “Multiple idiopathic   hemorrhagic sarcoma” và xem đó là một bướu ác tính của các tế bào thành mao   mạch, xuất hiện ở người Phi Châu với một tỉ lệ thấp. Khi dịch bệnh HIV xuất   hiện  ở  San Fransisco, Sarcom Kaposi gây sự  chú ý vì xuất hiện nhiều  ở  nhóm  đồng tính luyến ái, và tác nhân gây bệnh được nghi ngờ  là virus CMV. Tuy   nhiên, các cố  gắng để  phân lập virus CMV đều thất bại. Hiện nay không thể  loại trừ  khả  năng Sarcom Kaposi không phải là một loại tân sinh thật sự mà là   kết quả  của sự  tăng sinh mạch máu do HIV kích thích một yếu tố  tăng sinh   mạch máu (angioproliferative factor) Ơ bệnh nhân AIDS, sarcom Kaposi thường có những tổn thương nhiều ổ,   khởi đầu là một ban, sần hay hòn đỏ xuất hiện ở da hay niêm mạc. Ngoài ra vị  trí hay gặp là  ở  thân người, chân, tay.  Ơ  mặt vị  trí đặc trưng là đầu mũi. Tổn   thương  ở  da lan rộng và sậm màu dần, và các tổn thương lân cận thì dính lại   với nhau. Ngoài ra Sarcom Kaposi có thể   ảnh hưởng đến các phủ  tạng. Trong  miệng, Sarcom Kaposi được để  ý đầu tiên vào năm 1982  ở  nhóm đồng tính   luyến ái ở San Fransisco và sau đó, năm 1988, một nghiên cứu theo dõi trên 134   bệnh nhân cho thấy tổn thương này thường xuất hiện vào tuổi trung bình là 34  tuổi, 45% có đồng thời với tổn thương da và 22% xuất hiện trước.  Sarcom Kaposi trong miệng có thể xem là dấu hiện đầu tiên của giai đoạn  AIDS. Vị  trí thường gặp trong miệng là khẩu cái, đặc biệt là  ở  một bên khẩu   cái, kế đến là nướu và lưỡi.  Ơ  nướu tổn thương rất khó phân biệt với Epulis.   Tổn thương bắt đầu như một mảng đỏ hơi xanh hay đen kế đến sẽ to dần, sậm  màu và nổi gồ  lên, có bề  mặt lở  loét hay nhiều múi. Tổn thương thường hơi   rắn trước khi loét bề mặt. Hình  ảnh vi thể  của Sarcom Kaposi rất đặc trưng, cho thấy sự  tăng sinh  những dải tế  bào nội mô hình thoi hay hơi phình, đan vào nhau và rất nhiều   mạch máu.Khi Sarcom Kaposi xuất hiện đồng thời với một nhiễm trùng cơ hội,  thời gian sống sót trung bình của bệnh nhân từ 6 đến 9 tháng. 5.2­ Lympho không Hodgkin : NHL 11
  12. NHL xuất hiện  ở  bệnh nhân nhiễm HIV với tỉ  lệ  cao hơn  ở  người bình   thường. NHLthường liên quan đến tế bào Lympho B và có thể chứa virus EBV,  DNA. NHL rất hiếm gặp trong miệng so với các vị  trí khác trong miệng như  hạch lympho, tủy xương, gan và màng não. Trong miệng vị  trí được ghi nhận  là : vòng Waldeyer, nướu và tuyến mang tai, làm mô mềm tăng sinh và hủy hoại  xương bên dưới. 5.3­ Carcinom tế bào vảy Ơ bệnh nhân HIV, có báo cáo cho thấy carcinom tế bào gai xuất hiện trong   miệng, ở lưỡi, ở bệnh nhân đồng tính luyến ái. CÂU HỎI TỰ LƯỢNG GIÁ 1. Nhiễm Candida/ HIV­AIDS thường gặp là dạng màng giả  và   dạng teo (Đ­S) 2. Candidose dạng màng giả    là một mảng trắng dày sừng cạo   không tróc (Đ­S) 3. Nhiễm Candida là biểu hiện đặc hiệu của nhiễm HIV – AIDS (  Đ ­ S) 4. Bạch sản tóc là loại bạch sản rất phổ  biến xảy ra  ở hầu hết   người có yếu tố nguy cơ ung thư cao ( Đ –S) 5. Một trong những biểu hiện liên quan chặt chẽ với nhiễm HIV  là nhiễm Herpes simplex virus nguyên phát (Đ – S) 6. Nhiễm candida miệng có ý nghĩa tiên lượng  đối với tình trạng   nhiễm HIV – AIDS ( Đ – S) 7. Bệnh nha chu trong nhiễm HIV­AIDS là một dạng nhiễm virus   cơ hội (Đ­S) 8. Biểu hiện miệng nói trên có thể  giúp chẩn đoán xác định tình  trạng nhiễm HIV – AIDS trong điều kiện không có test huyết thanh ( Đ – S) 9. Sarcome Kaposi có thể biểu hiện trong miệng và ngoài da ( Đ –  S) 10. Việc điều trị  những bệnh lý này trên người nhiễm HIV hoàn   toàn khác biệt so với người bình thường ( Đ – S) 12
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2