intTypePromotion=1
zunia.vn Tuyển sinh 2024 dành cho Gen-Z zunia.vn zunia.vn
ADSENSE

Hệ thống cảnh báo sớm khủng hoảng tài chính

Chia sẻ: Nam Nữ | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:6

144
lượt xem
33
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đứng trước sự sa sút của nền kinh tế và các khủng hoảng tài chính, các nhà lãnh đạo cũng như các nhà hoạch định chính sách luôn phải đối diện với câu hỏi: làm thế nào để dự đoán được các hiện tượng này để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tác động của nó trong tương lai. Dominic Barton, Roberto Neweill, và Gregory Wilson thuộc Tập đoàn McKinsey đã đưa ra 10 chỉ số quan trọng để nhận dạng các dấu hiệu khủng khoảng mà các nhà quản lý cần kiểm soát; quan trọng cả về mức độ và xu hướng....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hệ thống cảnh báo sớm khủng hoảng tài chính

  1. Hệ thống cảnh báo sớm các khủng hoảng tài chính Đứng trước sự sa sút của nền kinh tế và các khủng hoảng tài chính, các nhà lãnh đ ạo cũng như các nhà hoạch định chính sách luôn phải đối diện với câu hỏi: làm thế nào đ ể d ự đoán được các hiện tượng này để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tác động của nó trong tương lai. Dominic Barton, Roberto Neweill, và Gregory Wilson thuộc Tập đoàn McKinsey đã đ ưa ra 10 ch ỉ số quan trọng để nhận dạng các dấu hiệu khủng khoảng mà các nhà quản lý c ần ki ểm soát; quan trọng cả về mức độ và xu hướng. Rạng sáng ngày 02 tháng 07 năm 1997, các chủ nhà băng hàng đ ầu Băng C ốc b ị đánh th ức và được triệu tập họp lúc 6h30 sáng tại toà nhà đối diện Cung đi ện Ban- khum-pron, tên g ọi th ường đ ược biết đến của trụ sở Ngân hàng Thái Lan lộng lẫy. Khi các chủ nhà băng t ập trung đông đ ủ v ới v ẻ lo lắng, họ được thông báo rằng sau nhiều tháng kháng cự, Chính ph ủ buộc ph ải d ỡ b ỏ m ức neo giá đ ồng bạt Thái với đồng đô la Mỹ. Khi các thị trường mở cửa vài giờ sau đó, t ất cả đều hoảng loạn. Đồng bạt giảm 15% so với đồng đô la Mỹ, báo trước một cuộc khủng hoảng kinh tế càn quét Thái Lan và những nước còn lại ở Châu Á ngay sau đó, tác động t ới cả thế gi ới. Trái với những kịch tính sau sự đổ vỡ của nền kinh tế Thái Lan, các yếu tố của cơn bão đã dần hình thành một cách lặng lẽ trong nhiều năm. Một dấu hiệu sớm của khủng hoảng là vi ệc Ngân hàng Thương mại Băng-cốc sụp đổ giữa năm 1996. Thất bại của ngân hàng này đã phơi bày các hoạt động ngân hàng kém hiệu quả tồn tại trong nhiều năm. Tiếp đó, Somprasong Land, một công ty từng chuyển đổi hàng ngàn héc-ta đầm lầy thành nhà ở ven đô, đã trở thành công ty b ất đ ộng s ản đầu tiên vỡ nợ trái phiếu quốc tế, kéo theo các xì-căng-đan và thất bại khác. Không lâu sau, các giám đốc ngân hàng nước ngoài bắt đầu thu hồi nợ. Các quỹ đầu tư mạo hiểm và các nhà đ ầu t ư khác, c ảm nh ận được sự suy thoái của nền kinh tế, bắt đầu bán ra đồng bạt. Các công ty của Thái Lan, e s ợ r ằng đ ồng tiền sắp bị phá giá, đồng loạt đổi bạt lấy đô la Mỹ. Đồng bạt Thái rớt giá ngay sau đó. Trong khi đó, cả Standard & Poor và Moody đều không tiên đoán trước được mức độ trầm trọng của cơn bão tài chính Thái Lan. Ngay cả IMF, vào đêm trước khi xảy ra khủng hoảng mùa hè 1997, vẫn đánh giá cao sự “tăng trưởng kinh tế đáng ghi nhận” và “quá trình tăng trưởng kinh tế vĩ mô liên tục” của Thái Lan. Đến mùa thu 1997, tất nhiên, các d ự đoán l ạc quan này c ủa h ọ đ ều bay theo gió. Các nhà quan sát dày dặn kinh nghiệm - với nhiệm vụ là xác định vấn đ ề trước khi chúng bi ến thành khủng hoảng - đều không nhận biết được các dấu hiệu khủng hoảng ở Thái Lan. Họ cũng bỏ qua các dấu hiệu này ở các trường hợp khác như chúng ta đã thấy, ví dụ như cuộc khủng hoảng tài chính năm 1994-1995 tại Mexico.
  2. Làm thế nào mà các chuyên gia lại tính sai như vậy? Tại sao h ọ lại không th ể nhìn th ấy m ột c ơn bão tài chính đang tiến đến gần? Chúng tôi tin rằng nguyên nhân là do đa s ố các chuyên gia ch ỉ d ựa trên sự suy đoán thông thường, đó là theo dõi sự lựa chọn của Chính phủ về tỷ giá hối đoái, quản lý tài chính và tổng lượng tiền để nhận biết một cuộc khủng hoảng đang t ới g ần. Chắn chắn rằng các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô đóng vai trò quan trọng, vì cuộc kh ủng ho ảng di ễn ra ở Arghentina năm 2002 là minh chứng rõ ràng: Cuộc khủng hoảng năm 2001-2002 ở Arghentina phát sinh do tình hình tài chính bất ổn, dẫn tới việc Chính phủ không thể trả 141 t ỷ đô la đang n ợ, vi ệc phá giá mạnh đồng pê-sô khi không còn liên kết với đồng đô la Mỹ, và đóng băng ti ền g ửi ngân hàng, t ất c ả những yếu tố này đã làm bùng phát cuộc khủng hoảng ngân hàng. Tuy nhiên, d ựa trên nghiên c ứu c ủa mình, chúng tôi tin rằng phần lớn các dấu hiệu cảnh báo các cơn bão tài chính nằm ở điều kiện kinh tế vi mô mà chúng tôi chắc rằng báo hiệu khủng hoảng tài chính trước khi chúng tích lu ỹ thành các bi ến động lớn. Vì lý do này, chúng tôi khẳng định rằng điều tiết kinh t ế vi mô - v ới các số đo tương đối đơn giản - song song với việc theo dõi các chỉ số kinh tế vĩ mô sẽ không những giúp tìm ra nguyên nhân của khủng hoảng mà còn chỉ ra nơi khủng hoảng sẽ tấn công và thậm chí khoảng thời gian nó có thể tấn công. Khuôn mẫu hình thành khủng hoảng Không ai có thể tranh luận rằng khủng hoảng tài chính dễ dự đoán. Như một cựu quan chức của IMF thừa nhận, “IMF đã dự đoán 15 so với sáu khủng hoảng vừa rồi.” Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng không thể không dự đoán được chúng, đặc biệt là khi phần lớn các cuộc khủng hoảng tài chính có chung một khuôn mẫu. Mười dấu hiệu của khủng hoảng Cần có sự kết hợp của cả nghệ thuật và khoa học để thấy được các dấu hiệu cảnh báo kh ủng hoảng tài chính. Sau đây là 10 chỉ số quan trọng mà các nhà quản lý c ần ki ểm soát; quan tr ọng c ả v ề mức độ và xu hướng. Khi một vài trong số các chỉ s ố này bắt đầu đi sai h ướng cùng m ột lúc, có th ể m ột cuộc khủng hoảng đang nhen nhóm. 1. Giá trị bị đổ vỡ ở khối tư nhân. Khi các công ty không kiếm ra đ ủ tiền đ ể trang tr ải cho chi phí c ủa số tiền họ đi vay, thì một cuộc khủng hoảng có thể đang tiềm tàng. Đèn đ ỏ bật sáng khi l ợi nhu ận c ủa phần lớn các công ty trong nước đều ít hơn chi phí trung bình về vốn. Điều này đúng với mọi kh ủng hoảng chúng tôi đã nghiên cứu. 2. Tỷ lệ trang trải lãi suất. Nếu tỷ lệ giữa dòng ti ền mặt và các khoản thanh toán lãi c ủa m ột công ty giảm xuống dưới 2, công ty đó có thể đang phải đối mặt với kh ủng hoảng thanh khoản; n ếu đi ều này xảy ra ở các công ty hàng đầu trong nước, một cuộc khủng hoảng rộng lớn có th ể s ắp x ảy ra. 3. Mức lợi nhuận của các ngân hàng. Doanh thu tài sản trên toàn hệ thống hàng năm nh ỏ h ơn 1% đối với các ngân hàng thương mại và/hoặc biên độ lãi suất ròng hàng năm nhỏ hơn 2% thường là các dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng. 4. Danh mục cho vay tăng nhanh. Khi danh mục cho vay của ngân hàng phát tri ển nhanh h ơn 20% trong vòng hơn 2 năm, chúng tôi thấy rằng nhiều khoản nợ trở thành nợ x ấu và d ẫn đ ến kh ủng ho ảng tài chính. 5. Tiền gửi giảm hoặc tỷ lệ tiền gửi tăng nhanh. Khi những người gửi tiền bắt đầu rút tiền khỏi các ngân hàng địa phương, đặc biệt là trong vòng 2 quý liên tiếp, hãy cảnh giác. Hành đ ộng này th ường là dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng. 6. Các khoản cho vay không có khả năng hoàn trả. Vi ệc cho vay không có s ự t ư v ấn tốt thường kết thúc bằng việc gia tăng các khoản cho vay không có khả năng hoàn trả. Khi các khoản vay này v ượt quá 5% của tổng số tài sản ngân hàng, đèn cảnh báo nên chuyển sang màu đỏ. Vấn đề nằm ở chỗ các ngân hàng thường không công bố các khoản cho vay không có khả năng hoàn tr ả cho t ới khi xảy ra khủng hoảng. Thêm vào đó, mỗi nước có các định nghĩa khác nhau về các khoản cho vay không có khả năng hoàn trả. 7. Tỷ lệ vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Khi một ngân hàng thương mại thiếu vốn, việc đi vay từ thị trường liên ngân hàng, hoặc đưa ra lãi suất cao h ơn ở ngoài thị tr ường nh ằm thu hút v ốn thì th ị trường về bản chất đang bỏ một lá phiếu không tín nhiệm đối với ngân hàng. Điểm yếu của một ngân hàng có thể dẫn tới lây lan hàng loạt. 8. Cơ cấu thời hạn cho vay của ngân hàng nước ngoài. Nhi ều công ty ở các th ị tr ường m ới xu ất hiện vay từ các ngân hàng nước ngoài tiền đô Mỹ, Euro hoặc Yên để làm gi ảm lãi suất. Khi hơn 25% của khoản nước ngoài cho một nước nhất định vay có thời hạn ít hơn m ột năm, c ần b ật đèn c ảnh báo vì các khoản cho vay đó rất dễ bị rút lại nếu xảy ra khủng hoảng. 9. Tăng trưởng nhanh và sự sụp đổ đồng tiền quốc tế và các dòng đầu tư. Khi các nhà đầu tư nước ngoài, thông qua vốn chủ sở hữu, trái phiếu, và các khoản cho vay ngân hàng, đ ổ ti ền vào m ột n ước mà không có hiệu quả hoặc quản lý kém, kết quả là dư nợ lớn có th ể d ẫn đ ến kh ủng hoảng. Các ngu ồn đầu tư như vậy có thể tạo điều kiện để khủng hoảng xảy ra. 10. Bong bóng giá tài sản. Bong bóng và nổ bong bóng giá tài s ản di ễn ra trên toàn th ế gi ới nh ưng đặc biệt hay xảy ra ở các thị trường mới nổi do các thị trường tài s ản t ại đây hoạt đ ộng kém hi ệu qu ả và tâm lý các nhà đầu tư dễ thay đổi.
  3. Dominic Barton, Roberto Neweill, và Gregory Wilson Trích từ cuốn sách "Các thị trường nguy hiểm, cung cấp các chỉ số nhằm phát hiện các c ơn bão s ắp x ảy ra" Thu Hà (biên dịch) Về các tác giả - Dominic Barton là Chủ tịch của Tập đoàn McKinsey tại Châu Á. - Roberto Neweill nguyên là giám đốc ở văn phòng Miami; - Greg Wilson là một trong những người đứng đ ầu văn phòng ở Washington, DC. Ngày 19/9/2008, Dominic Barton đã có bài thuyết trình về các đề tài nóng mà các doanh nghi ệp Vi ệt Nam quan tâm tại buổi hội thảo "Lãnh đạo doanh nghiệp trong th ời kỳ kh ủng hoảng”, t ổ ch ức t ại Khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội.
  4. Hệ thống cảnh báo sớm các khủng hoảng tài chính - Phần 2 Tiếp tục bài viết về việc cảnh báo sớm các khủng hoảng tài chính, Dominic Barton, Roberto Neweill, và Gregory Wilson thuộc Tập đoàn McKinsey nhận định: "Quá trình h ội nh ập các th ị trường mới nổi vào nền kinh tế toàn cầu mang lại lợi ích lớn cho tất cả nhưng cũng kèm theo nỗi đau và cái giá của nó nếu những thị trường này không sẵn sàng hoặc không có “hệ thống miễn dịch” đầy đủ. Phần lớn các cuộc khủng hoảng bắt đầu bằng sự yếu kém trong ngành sản xuất vật chất, đặc biệt là sự bất lực của các công ty không duy trì được hiệu quả hoạt động và lợi nhuận. Ở những thị trường mới mở, điều này thường do tính chất đóng của nền kinh tế, trong đó sự tồn tại của hiện t ượng cho vay chỉ định, thiếu tính cạnh tranh thực sự, và yếu kém trong quản lý doanh nghi ệp th ường trong m ột th ời gian dài. Khủng hoảng cũng có thể xảy ra ở các nền kinh t ế phát triển (ví d ụ, kh ủng hoảng ở Th ụy Đi ển năm 1985) và ở từng ngành (ví dụ, khủng hoảng tiết kiệm và vay vốn ở Hoa Kỳ nh ững năm gi ữa thập kỷ 80). Các yếu kém cơ cấu này thường bộc lộ khi Chính phủ bắt đ ầu h ội nh ập mạnh m ẽ nền kinh t ế trong nước với kinh tế toàn cầu. Việc hội nhập này thường quá sâu và quá nhanh. Khi các thị trường phát triển và mở rộng đến những khu vực của thế giới mà trước kia chúng không nắm vai trò quan trọng, nhiều khả năng khủng hoảng sẽ gia tăng về t ần suất cũng nh ư v ề đ ộ l ớn và cường độ. Tiếp đó, việc cho vay sai lầm thổi bùng ngọn lửa. Trong tất cả các khủng hoảng chúng ta đã thấy, các tổ chức tài chính không chỉ tiếp tục cho các doanh nghiệp không ổn định vay mà còn tăng vi ệc cho vay vốn, đôi khi ở mức rất cao. Chúng ta cũng thấy họ rời xa lĩnh vực chuyên môn c ủa mình đ ể sang lĩnh vực cung cấp các khoản vay cho người tiêu dùng và các doanh nghi ệp có hoạt động rủi ro cao. Nghiệp vụ ngân hàng kém là nguyên nhân chính của những bước đi sai l ầm này và thêm vào đó, trầm tr ọng hơn, là mối quan hệ thân thiết đáng ngờ giữa các ngân hàng và con nợ của mình, áp lực của Chính phủ phải cho vay để tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế, và sự bất cẩn xảy ra cùng với quá trình phi điều tiết và làn sóng vốn đầu tư nước ngoài tràn vào nền kinh tế. Tất cả những hành động trên dẫn tới việc tích nợ xấu nhanh và không bền vững. Trong giai đoạn này của khủng hoảng, hệ thống pháp luật - đáng l ẽ nên ngăn ng ừa v ấn đề này x ảy ra - lại hoàn toàn vô hiệu hoặc không đủ để giải quyết vấn đề. Những người hành pháp là cán bộ nhà nước thường thiếu các kỹ năng quản lý một nền kinh tế bùng nổ - chưa kể đến khả năng đối mặt với các thể chế tài chính trốn tránh các quy định và giấu giếm bản chất thật của vấn đề. Giai đoạn cuối cùng xảy ra khi các chính sách kinh tế vĩ mô và các cú sốc ngoại sinh làm bùng nổ khủng hoảng. Các chính sách vĩ mô - phần lớn là các chính sách điều chỉnh t ỷ giá h ối đoái và các chính sách tài khoá - thường quyết định thời gian và độ lớn của khủng hoảng. Yếu t ố làm bùng phát khủng hoảng có thể là các cú sốc bên ngoài, ví dụ như tác động của hiện tượng El Niño lên nền kinh t ế của Ê-cua-a-đo, hoặc từ bên trong, ví dụ như việc suy giảm nhanh chóng lòng tin c ủa ng ười g ửi ti ền ở Arghentina sau nhiều năm quản lý kinh t ế kém. Khủng hoảng này nối tiếp khủng hoảng khác, chúng tôi đã tìm ra một mô hình gồm sự tích tụ dần dần trong khối doanh nghiệp và ngân hàng, tiếp đó là yếu tố châm ngòi trong kinh tế vĩ mô. Ví dụ như cuộc khủng hoảng của Mexico, hệ thống ngân hàng bị kích thích b ởi thanh kho ản th ừa khiến cho ngân hàng cho khối tư nhân vay vốn một cách hào phóng. Nhưng cùng lúc với việc bùng nổ cho vay vốn, các doanh nghiệp lại đồng thời phải hứng chịu khi hàng nhập khẩu ồ ạt tràn vào, dẫn t ới các vấn đề trong hoạt động trước khi xảy ra khủng hoảng. Nghịch lý ở ch ỗ điều này do các chính sách của Chính phủ gây ra bắt đầu vào năm 1989 khi phần lớn nền kinh tế được cổ phần hoá và tự do hoá vài năm sau khi Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ giữa Canada và Hoa Kỳ đ ược ký k ết. T ất c ả các thay đổi này đều cần thiết và khiến cho lòng tin vào nền kinh tế Mexico tăng cao. Chúng cũng khuy ến
  5. khích bùng nổ việc vay vốn nước ngoài dẫn đến việc tăng giá quá m ức của đ ồng pê-sô. Gi ống nh ư ở Thái Lan, Chính phủ Mexico không thấy được sự mất cân đối đang dần hình thành trong nền kinh t ế và không hề thấy cuộc khủng hoảng năm 1994. Trường hợp của Thuỵ Điển có khuôn mẫu tương tự. Từ lịch sử quy định chặt chẽ trong ngân hàng, khối tài chính Thuỵ Điển được bãi bỏ nhiều luật lệ năm 1985. Vi ệc tháo d ỡ hạn ch ế cho vay làm bùng phát việc cho vay vốn mạnh bởi các ngân hàng nội địa và nước ngoài, ph ần l ớn các kho ản vay liên quan trực tiếp đến bất động sản. Không lâu sau, giá trị tài s ản tăng cao. Năm 1989, Th ụy Đi ển bãi b ỏ hạn chế về vốn và các công dân được phép đầu tư vào tài sản ở nước ngoài. Nhiều người mua bất động sản ở ngoài nước, vay ngoại tệ với lãi suất thấp. Bên cạnh hi ện t ượng ngày càng tăng này, nền kinh tế Thụy Điển bị sói mòn bởi thâm hụt thương mại tăng cao, một phần bởi sự tăng tỷ giá hối đoái thực. Ngoài ra, chính sách neo t ỷ giá hối đoái của Chính phủ khuyến khích các chủ nợ nhận các khoản vay không được bảo hiểm từ nguồn tài trợ nước ngoài. Vì đồng tiền bị neo giá che lấp nguy cơ thật sự về tỷ giá hối đoái, người đi vay có được cái có vẻ nh ư món vay ngoại t ệ “r ẻ” mà không nghĩ rằng đồng curon sẽ có ngày phá giá. Chính phủ Thụy Điển đã có một số biện pháp nhanh để làm các đám mây bão ng ưng t ụ; năm 1992, trong một nỗ lực nhằm bảo vệ tỷ giá hối đoái trước s ự hỗn độn trên th ế giới, Chính ph ủ áp đ ặt m ột h ệ thống thuế mới và áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt. Hệ thống thuế mới khuyến khích tiết kiệm thay vì vay vốn, do đó đã làm giảm khấu trừ thanh toán lãi suất. Các bi ện pháp này làm gi ảm nhanh l ạm phát và tăng cao mức lãi suất thực sau thuế. Kết quả là thị trường b ất đ ộng s ản gi ảm m ạnh và kéo theo một loạt các khoản vay không có khả năng hoàn trả. Những tuần đầu năm 1993, đồng curon giảm 25% giá trị và vốn đầu tư nước ngoài rút khỏi Thụy Điển để tới những nơi an toàn hơn. Trong những ví dụ này và các ví dụ khác, chúng ta thấy hai lợi ích quan trọng từ việc hiểu rõ động lực của khủng hoảng và nguyên nhân của các cơn bão tài chính. Thứ nhất, hiểu được nguyên nhân cơ bản của các cơn bão tài chính, chúng ta hy vọng sẽ giảm thiểu được tác động t ức thời, chi phí và thời gian ảnh h ưởng. Th ứ hai, thừa nhận rằng nguyên nhân của một cơn bão tài chính bắt nguồn đầu tiên từ khu vực ngân hàng và bất động sản, chúng ta hy vọng rằng các nhà quản lý có thể thấy được các dấu hiệu sớm của cơn bão để kịp thời ra các quyết định giúp công ty họ tránh được sự thịnh nộ của cơn bão. Kết luận và quan điểm về khủng hoảng trong tương lai Quá trình hội nhập các thị trường mới nổi vào nền kinh tế toàn cầu mang l ại l ợi ích l ớn cho t ất c ả nhưng cũng kèm theo nỗi đau và cái giá của nó nếu những thị trường này không sẵn sàng hoặc không có “hệ thống miễn dịch” đầy đủ. Chúng tôi tin rằng trong t ương lai có th ể xảy ra vài cuộc khủng hoảng. Đây gần như là điều được xác định trước. Khi các thị trường phát triển và mở rộng đến những khu vực của thế giới mà trước kia họ không nắm vai trò quan trọng thì rất có nhiều khả năng khủng hoảng sẽ gia tăng về tần suất cũng như về độ lớn và cường độ. Nhiều nhà quan sát tin rằng có ít nh ất ba c ơn bão tài chính chủ yếu đang ấp ủ trong nền kinh tế thế giới. Đây có khả năng là một trong những kh ủng hoảng lớn nhất từ trước đến nay: 1. Nhật Bản, được tạp chí "Nhà kinh tế" đầu năm 2002 gọi là “nền kinh tế không tăng trưởng” đã trì hoãn những cải cách cần thiết trong một thời gian rất dài và gây ra áp lực khổng lồ không giải quyết được trong hệ thống ngân hàng và kinh tế vĩ mô của Nhật. Cái giá mà người Nhật và thế giới phải trả cho sự thờ ơ này có thể sẽ lớn hơn bất cứ thứ gì từng trải nghiệm trước đây. 2. Một cơn bão tương tự nhưng nhỏ hơn có thể đang hình thành ở Trung Quốc nơi mà danh mục tín dụng ở các doanh nghiệp nhà nước tích đọng trong nhiều năm đã t ạo ra m ột danh mục các khoản tín dụng không hiệu quả ước tính tới hơn 600 tỷ đô la. Chất xúc tác của cơn bão tiềm tàng ở Trung Quốc có thể là việc cho phép những người gửi tiền Trung Quốc tự do chuyển tiền gửi trong nước hoặc đầu tư ngoài nước. 3. Một sự kiện có các đặc điểm tương tự khác, rất may mắn là ở quy mô nh ỏ h ơn, có th ể đang hình thành tại Ấn Độ, nơi mà việc bảo hộ các doanh nghiệp nhà nước thiếu hiệu quả trong hàng thập kỷ có thể dẫn tới các hệ quả về kinh tế. Ở đây, sự kiện đang dần hình thành có th ể là vi ệc t ự do hóa thương mại hơn nữa khiến các công ty lớn phải chịu áp lực cạnh tranh mạnh m ẽ hơn. Áp lực tích tụ trong ba nền kinh tế này và nhiều nền kinh t ế khác rất đáng s ợ. T ự do hóa đang d ần tiến đến toàn bộ Đông Âu, Đông Nam Á và Châu Phi. Việc tiếp t ục bãi b ỏ quy định có th ể x ảy ra ở các thị trường phát triển của Châu Âu và Bắc Mỹ khi việc cải cách lương hưu, nới l ỏng luật ngân hàng và quy tụ các dịch vụ tài chính đang tiếp diễn. Hơn nữa, sự kết nối gi ữa các nền kinh t ế th ế gi ới đang gia tăng, khi doanh nghiệp toàn cầu hóa, nhiều tổ chức và cá nhân đầu tư ở nước ngoài và các thể chế tài chính trở liên kết với nhau chặt chẽ hơn thông qua hệ thống thanh toán, cho vay theo nhóm, h ợp đ ồng mua lại, cho vay liên ngân hàng, và đầu t ư thị trường vốn. Tất cả các sự kiện này sẽ khiến các nhà quản lý bận rộn với vi ệc theo dõi các d ấu hi ệu cảnh báo khủng hoảng đang xuất hiện ở nhiều thị trường nguy hiểm. Các nhà quản lý cũng nên bắt đầu áp dụng các biện pháp phòng ngừa cần thiết để vượt qua 100 ngày đầu tiên của cơn bão tài chính. Dominic Barton, Roberto Neweill, và Gregory Wilson Trích từ cuốn sách "Các thị trường nguy hiểm, cung cấp các chỉ số nhằm phát hiện các c ơn bão s ắp x ảy ra"
  6. Thu Hà (biên dịch)
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2