intTypePromotion=1
zunia.vn Tuyển sinh 2024 dành cho Gen-Z zunia.vn zunia.vn
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lâm nghiệp: Nghiên cứu đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất ở xã Ba Nang giai đoạn 2011 - 2020

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:111

45
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của đề tài là góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho quy hoạch sử dụng đất tại xã Ba Nang huyện ĐaKrông tỉnh Quảng Trị. Đề xuất phương án cho quy hoạch sử dụng đất ở xã Ba Nang huyện ĐaKrông tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2011 - 2020. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lâm nghiệp: Nghiên cứu đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất ở xã Ba Nang giai đoạn 2011 - 2020

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP LÊ PHƯỚC NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT Ở XÃ BA NANG GIAI ĐOẠN 2011- 2020 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Hà Nội. 2011
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP LÊ PHƯỚC NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT Ở XÃ BA NANG GIAI ĐOẠN 2011- 2020 CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC MÃ SỐ: 60.62.60 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học TS. LÊ SỸ VIỆT Hà Nội. 2011
  3. LỜI CẢM ƠN Luận văn được hoàn thành theo Chương trình Đào tạo Sau đại học ngành Lâm học hệ tập trung, khóa 17B, niên khóa 2009 - 2011 của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam. Để có được kết quả nghiên cứu này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Khoa đào tạo Sau đại học, Khoa Lâm nghiệp và các thầy giáo, cô giáo. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Lê Sỹ Việt thầy giáo trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quí báu và dành những tình cảm tốt đẹp nhất cho tôi trong thời gian học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn. Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám đốc và cán bộ nhân viên Khu bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông - tỉnh Quảng Trị, xã Ba Nang – huyện ĐaKrông nơi tôi thực hiện đề tài, bạn bè gần xa, cùng những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành khóa học. Mặc dù đã cố gắng, làm việc với tất cả sự nỗ lực của bản thân nhưng do hạn chế về tài liệu và thời gian nên Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các nhà khoa học, quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp. Xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 9 năm 2011 Tác giả Lê Phước
  4. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu và các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và đáng tin cậy. Tôi cũng xin cam đoan rằng, mọi thông tin trích dẫn trong luận văn này đã ghi rõ nguồn gốc. Tác giả Lê Phước
  5. 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Đất là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình Kinh tế - Văn hoá - Xã hội, An ninh - Quốc phòng. Đất đai là tài nguyên có giới hạn về số lượng, có giá trị cố định trong không gian, không thể thay đổi theo ý muốn chủ quan của con người. Chính điều này tạo ra các giá trị khác nhau giữa các thửa đất có vị trí khác nhau. Từ các đặc điểm trên cho thấy việc khai thác, sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả là một trong các yếu tố có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững. Quy hoạch sử dụng nhằm phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội. Thực thạng quản lý sử dụng đất đai trong lúc chưa có quy hoạch sử dụng đất dễ dẫn đến tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, lãng phí, phá vỡ cân bằng sinh thái, kém hiệu quả vv... Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp về tổ chức, sử dụng đất đầy đủ, hợp lý có hiệu quả và bảo vệ nguồn tái nguyên đất đai. Quy hoạch sử dụng đất có nhiệm vụ bố trí, xắp xếp lại nền sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các công trình xây dựng cơ bản, các khu dân cư và các công trình phúc lợi một cách hợp lý. Việc lập quy hoạch sử dụng đất đai có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm định hướng cho các cấp, các ngành lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết trên địa bàn lãnh thổ, là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm căn cứ cho việc giao đất, cho thuê đất để đàp ứng các nhu cầu phát triển kinh tề xã hội. Năm 2006, xã Ba Nang triển khai Quy hoạch sử dụng đất đai của xã thời kỳ 2006-2010 nhưng đây là lần đầu tiên thực hiện nên không tránh khỏi những khó khăn, trở ngại là một trong những nguyên nhân làm chậm sự phát triển kinh tế xã hội của xã. Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất ở xã Ba nang giai đoạn 2011 - 2020 là một nhu cầu khách quan, cấn thiết phải được thực hiện để thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, góp phần thực hiện tốt các chỉ tiêu kinh tế xã hội đã đề ra, tạo cơ sở pháp lý để thống nhất quản lý, khai thác sử dụng nguồn tài
  6. 2 nguyên đất đai có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng cao của xã. Trước tình hình phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ cao, nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng lớn, mà quỹ đất thì có hạn. Công tác quản lý sử dụng đất đai ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải có quy hoạch sử dụng đất phù hợp làm cơ sở pháp lý để phân bổ đất đai cho các nhu cầu phát triển của xã đảm bảo cho sự phát triển hài hoà giữa các lĩnh vực kinh tế - văn hoá - xã hội - an ninh - quốc phòng và cảnh quan môi trường. Ba Nang là một xã miền núi của huyện Đakrông với lợi thế về tiềm năng đất đai, có tổng diện tích tự nhiên là 6503,10 ha. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua do khai thác và sử dụng đất chưa hợp lý, hoạt động sử dụng đất không đúng quy hoạch vẫn thường xuyên xảy ra làm cho việc kinh doanh trên một đơn vị diện tích chưa thực sự hiệu quả,... dẫn đến tình trạng kinh tế chậm phát triển, đời sồng nhân dân nghèo nàn lạc hậu. Những năm gần đây, cùng với tiến trình phát triển kinh tế của cả nước và của tỉnh, kinh tế xã hội huyện Đakrông đặc biệt là xã Ba nang đã đạt được những kết quả nhất định. Mặc dù vậy, sự phát triển kinh tế - xã hội của xã Ba nang trong thời gian qua vẫn còn chậm, chưa khai thác hết tiềm năng, thế mạnh của xã, đặc biệt về tài nguyên đất, nên cho đến nay xã Ba nang là một trong những xã khó khăn của huyện Đakrông và huyện Đakrông vẫn thuộc trong 61 huyện nghèo thuộc chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững của Nghị quyết số 30a/2008/NQQ-CP của Chính phủ. Nhằm góp phần Quy hoạch gắn liền với phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn miền núi, trong những năm gần đây Nhà nước đã ban hành một số chủ trương chính sách mới có tác động một cách sâu sắc đến công tác quy hoạch sử dụng đất như: Nghị định số 181/2004/ NĐ- CP ngày 29/10/2004 của chính phủ về thi hành luật đất đai năm 2003.Quyết định số 04/2005/QĐ – BTNMT ngày 30/6/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Nghị định số 69/2009/NĐ – CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của
  7. 3 chính phủ Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng, giá đất, thu hồi đất,bồi thường hổ trợ tái định cư. Xuất phát từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất hợp lý, có cơ sở khoa học sẽ góp phần quản lý tài nguyên đất bền vững, đóng góp tăng trưởng kinh tế chung của xã, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của nhân dân các dân tộc làm nghề nông lâm nghiệp, thực hiện xoá đói, giảm nghèo và đưa kinh tế - xã hội và đưa kinh tế xã hội miền núi phát triển hoà nhập với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là hết sức cần thiết. Đây cũng là lý do chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất ở xã Ba nang huyện Đakrông tỉnh Quảng trị giai đoạn 2011 – 2020 “ trong khuôn khổ một Luận văn tốt nghiệp cao học tại Trường Đại học Lâm nghiệp.
  8. 4 Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Trên thế giới 1.1.1. Những nghiên cứu liên quan đến cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất vĩ mô Lịch sử về quy hoạch sử dụng đất đã trải qua hơn 100 năm nghiên cứu và phát triển, những thành tựu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất đã được sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả. Hệ thống canh tác (Farming System) là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành trong nông trại, được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế xã hội, phù hợp với các mục tiêu mong muốn và nguồn lực của hộ (Shaner, Philip và Schemmedli, 1984). Hệ thống canh tác bao gồm các nguồn lực (đất, lao động, vốn) được sử dụng cho các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ để sản xuất các nông sản (lương thực, nguyên liệu thô, tiền mặt) trong nông trại với điều kiện nhất định (William C.Beet, 1990). Trên thế giới mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh (Shifitng cultivation), đó chính là những hệ thống nông nghiệp trong đó đất đã được phát quang để canh tác trong một thời gian, ngắn hơn thời gian bỏ hoá (Conklin, 1957)... Du canh được xem là phương thức canh tác cổ xưa nhất, nó ra đời vào cuối thời kỳ đồ đá mới, khi con người đã tích luỹ được những kiến thức ban đầu về tự nhiên. Loài người đã vượt qua thời kỳ này bằng những cuộc cách mạng về kỹ thuật và trồng trọt. Tuy nhiên, về chiến lược phát triển kinh tế bền vững, du canh không được nhiều Chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng. Bởi du canh được coi như sự phí phạm về sức người, tài nguyên đất đai, là nguyên chính gây nên xói mòn và thoái hoá đất, dẫn đến tình trạng sa mạc hoá xảy ra nghiêm trọng. Sau du canh là sự ra đời của các phương thức Taungya (Canh tác đồi núi) ở vùng nhiệt đới. Hệ thống Taungya được mọi người biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, ở một số nước các tên gọi được biểu thị cho sự đặc biệt của phương thức du canh, ở Inđônêxia người ta gọi là Tumbansang, ở Philippin là Kaigining; ở Malayxia là La
  9. 5 dang; ở Srilanka là China... Theo Von Hesmen (1966; 1970) và King (1979), hầu hết các rừng trồng ở vùng nhiệt đới đều được hình thành từ những phương thức này, đặc biệt là ở Châu á và Châu Phi [12]. Taungya được xem như một dấu hiệu báo trước cho các phương thức sử dụng đất sau này (Nair, 1978). Hệ thống canh tác Taungya được cải tiến sửa đổi và dần dần được hoàn thiện, phổ biến trên toàn thế giới và được coi như là một hệ thống sử dụng đất có hiệu quả về kinh tế lẫn môi trường sinh thái. Theo thông báo của FAO năm 1990, đến nay đã có tới 117 nước trên thế giới áp dụng phương thức này. Như vậy, có thể thấy du canh là một hệ thống canh tác, trong đó các loài cây nông nghiệp và lâm nghiệp sinh trưởng kế tiếp nhau, còn Taungya bao gồm sự kết hợp đồng thời của cả hai loài cây trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành rừng trồng. Đứng trên quan điểm sử dụng, quản lý đất thì cả hai quá trình trên đều có một điểm tương đồng là những cây nông nghiệp được sử dụng một cách tốt nhất bởi độ phì của đất được tăng lên chính nhờ thảm mục của cây gỗ. Theo FAO, hiện nay dân số thế giới đã lên tới khoảng trên 6 tỉ người, đang sử dụng 1,476 tỉ ha đất nông nghiệp. Trong đó: Đất có độ dốc (đất đồi, núi) là 937 triệu ha chiếm 63,5% Đất có độ dốc trên 10 độ có 377 triệu ha chiếm 25,5% (Sheng, 1988; Hudson, 1988; Cent, 1989). Trong quá trình sử dụng con người đã làm thoái hóa khoảng 1,4 tỉ ha đất. Theo Norman Mayer (1993), hàng năm trên toàn cầu mất khoảng 11 triệu ha đất nông nghiệp do các nguyên nhân xói mòn, rửa trôi và sa mạc hóa, nhiễm độc hoặc bị chuyển hóa sang dạng khác. Một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng xói mòn, thoái hóa đất làm giảm năng suất cây trồng là các loại hình quảng canh và du canh. Do những yêu cầu của mình, con người ngày càng xâm hại đến rừng để lấy lâm sản và đất canh tác, làm cho diện tích đất rừng ngày càng thu hẹp, đe dọa đến môi trường sống. Theo dự báo của tổ chức dân số thế giới, nếu với tốc độ tăng trưởng dân số diễn ra như hiện nay thì đến năm 2025 dân số thế giới sẽ lên tới khoảng 8 tỷ người,
  10. 6 tập trung ở các nước chậm và đang phát triển. Nếu mức tiêu thụ lương thực theo đầu người vẫn giữ nguyên như hiện nay thì sự tăng dân số thế giới đòi hỏi phải tăng năng suất lương thực thô thêm 2,6 tỷ tấn vào năm 2025, tức là tăng 57% so với năm 1990. Trên thực tế thì đất đai mở mang có hạn và không thể đáp ứng được với tốc độ gia tăng dân số tự nhiên trên toàn cầu. Vì vậy để thỏa mãn nhu cầu về lương thực ngày càng cao, con người tìm cách giải quyết theo một trong hai hướng chính đó là: Tăng năng suất cây trồng bằng việc tận dụng tối đa tiềm năng của các loại đất, thâm canh tăng mùa vụ và mở rộng diện tích canh tác. Để làm được điều đó thì công tác điều tra, khảo sát, phân loại và đánh giá đất đai để tìm ra giải pháp sử dụng đất có hiệu quả nhất trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất hợp lý, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và đặc biệt là theo hướng nghiên cứu đánh giá tổng hợp tiềm năng của đất đai cho các mục tiêu sử dụng bền vững đã trở thành một yêu cầu rất bức thiết. Công cuộc tìm giải pháp nhằm nâng cao sản lượng lương thực và khắc phục tình trạng thiếu hụt về lương thực, đã thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu tìm giải pháp về sử dụng đất đai bền vững. Một trong những thành công của quá trình nghiên cứu đó là đã tìm ra hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng đất dốc bền vững và được trung tâm đời sống nông thôn Bapstit Mintanao Philippin tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ giữa những năm 1970 đến nay. - Mô hình SALT 1 (Sloping Agriculture Land Technology) với cơ cấu 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên (NN) + 50% cây nông nghiệp hàng năm. - Mô hình SALT 2 (Simple Agro - Livestock Technology) với cơ cấu 40% NN + 20% LN + 20% chăn nuôi +20 % làm nhà ở và chuồng trại. - Mô hình SALT 3 (Sustainable Agro - Forest land Technology) với cơ cấu 40% NN + 60% LN. - Mô hình SALT 4 (Small Agro - Fruit Likelihood Technology) với cơ cấu 60% LN + 15% NN + 25% cây ăn quả. Các mô hình canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc có sự phối hợp hài hoà giữa cây nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc đều dựa trên cơ sở có sự
  11. 7 nghiên cứu phân bổ các loại đất đai một cách hợp lý, khoa học nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất và bền vững nhất về mặt môi trường sinh thái. Những kết quả phân tích hệ thống canh tác xác nhận rằng phân tích hệ thống canh tác là một công cụ của quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp cấp địa phương. Kết quả tổng kết các tài liệu nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch phát triển địa phương chỉ ra rất nhiều cách tiếp cận: Tiếp cận Sodeo của Peter Hildebrand (Hildebrand,1981); Tiếp cận “nông thôn – trở lại –nông thôn” của Robert (Rhoades Rhoades, 1982); Tiếp cận của Robert Chambers; Tiếp cận “chẩn đoán và thiết kế của ICRAF” (Raintree); Tiếp cận của L.W. Harrington… Nhìn chung các phương pháp tiếp cận đi theo 2 hướng chính đó là: Tiếp cận từ trên xuống (Top-down approach) và tiếp cận từ dưới lên (Boottom-up approach). Cách tiếp cận thứ nhất ngày càng bộc lộ những hạn chế, kém hiệu quả khi không có sự tham gia của cộng đồng và khi các chương trình thực hiện ở cấp vi mô. Cách tiếp cận thứ 2 được hình thành khi các nhà xã hội học chứng minh rằng sự “không thể thiếu được” vai trò của cộng đồng nông thôn trong quản lý tài nguyên cộng đồng (Robert Chambers). Từ đó “Quy hoạch trên cơ sở cộng đồng” (Community-based Planning) bắt đầu xuất hiện. Khi nghiên cứu hệ thống canh tác năm 1990, FAO đã xuất bản cuốn "Phát triển hệ thống canh tác". Công trình đã chỉ rõ những ưu thế và hạn chế của 2 phương pháp tiếp cận trên. Từ cuối thập kỷ 70 nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm phát triển các phương pháp thu thập thông tin cho quy hoạch với các nhóm thông tin chính như: Khí hậu, độ dốc, và địa mạo, thổ nhưỡng gồm cả thuỷ văn, đất, nước, tài nguyên nhân tạo như hệ thống tưới tiêu, thảm thực vật. Các phương pháp điều tra đánh giá cùng tham gia như đánh giá nhanh nông thôn (RRA), đánh giá nông thôn có sự tham gia, phương pháp quá trình sáng tạo (Creative Process), đặc biệt phương pháp phân tích các hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất vi mô được nghiên cứu rộng rãi. Những nghiên cứu, thử nghiệm các phương pháp RRA vào thập kỷ 80 và PRA vào đầu thập kỷ 90 trong phát triển nông thôn và lập kế hoạch sử dụng đất được thực
  12. 8 hiện trên 30 nước phát triển (Robert Chambers, 1994) đã cho thấy ưu thế của phương pháp này trong quy hoạch. Một số kết quả thử nghiệm phân tích hệ thống canh tác tại Châu Âu, Châu Phi và Nam Mỹ đã chứng minh hệ thống canh tác là công cụ trong quy hoạch sử dụng đất cấp địa phương. LEFSA (Land Evaluation and Farming System Analysis) là phương pháp kết hợp giữa đánh giá đất đai và phân tích hệ thóng canh tác cho lập kế hoạch sử dụng đất cấp vi mô. Luning (1990), Anaman (1994) và một số tác giả khác đã nghiên cứu và áp dụng LEFSA tại Thái Lan. Tác giả Erwin, 1990 đã phân tích hệ thống canh tác là công cụ cho phân tích các trở ngại trong hệ thống nông trại hộ gia đìn, đề xuất mục tiêu quy hoạch, xác định các kiểu sử dụng đất hiện tại và phương án sử dụng đất, đánh giá phương án sử dụng đất khác nhau nhằm chọn ra phương án tốt nhất. Trong giai đoạn này, phát triển công nghệ có sự tham gia cũng được ứng dụng rộng rãi. Phát triển công nghệ có sự tham gia (Participatory Technology Development - PTD) hay còn gọi là phát triển công nghệ cùng với người nông dân chính là sự kết hợp kiến thức và năng lực nghiên cứu của những cộng đồng địa phương và các tổ chức phát triển trong quá trình học hỏi lẫn nhau nhằm mục đích tăng cường kinh nghiệm và khả năng quản lý kỹ thuật của cộng đồng và người dân địa phương bằng chính nội lực của họ, trong đó hoạt động của người dân giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ tiến trình. Tuy nhiên, phát triển công nghệ có sự tham gia đòi hỏi có nhiều thời gian, sự kiên nhẫn và nhiệt thành từ phía những người bên ngoài - nhà nghiên cứu và các cán bộ khuyến nông lâm. 1.1.2. Những nghiên cứu liên quan đến sử dụng đất cấp vi mô có sự tham gia Vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới, trong nước nghiên cứu và công bố kết quả. Năm 1985, một nhóm chuyên gia tư vấn quốc tế về quy hoạch sử dụng đất được tổ chức FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình quy hoạch sử dụng đất với 4 câu hỏi: 1) Các vấn đề nào đang tồn tại và mục tiêu của quy hoạch là gì? 2) Có các phương án sử dụng đất nào đang tồn tại?
  13. 9 3) Phương án nào là tốt nhất? 4) Có thể vận dụng vào thực tế như thế nào? Tài liệu Hội thảo giữa trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và Trường Tổng hợp Kỹ thuật Dresden, vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân đã được Holm Uibrig đề cập khá đầy đủ và toàn diện. Tài liệu đã phân tích một cách đầy đủ về mối quan hệ giữa các loại hình canh tác có liên quan như: Quy hoạch rừng, vấn đề phát triển nông thôn, quy hoạch sử dụng đất, phân cấp hạng đất và phương pháp tiếp cận mới trong quy hoạch sử dụng đất . Tại Hội thảo quốc tế tại Việt Nam năm 1998 về vấn đề quy hoạch sử dụng đất cấp làng bản đã được FAO đề cập khá chi tiết cả về mặt khái niệm lẫn sự tham gia trong việc đề xuất các chiến lược quy hoạch sử dụng đất và giao đất cấp làng bản. 1.1.3. Những kết luận rút ra từ kinh nghiệm của thế giới Từ các tài liệu nghiên cứu và kinh nghiệm quy hoạch sử dụng đất trên thế giới cho phép rút ra một số kết luận sau: Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu, thử nghiệm về quy hoạch, kỹ thuật, phương pháp chuyển giao sử dụng đất song nhìn chung hầu hết các phương pháp đều phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế chưa thực sự quan tâm đến lợi ích của người nông dân cũng như vấn đề đang nóng bỏng hiện nay là đảm bảo an toàn sinh tháí theo hướng phát triển bền vững. Việt Nam có thể ứng dụng các thành tựu nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất trên thế giới song phải vận dụng một cách linh hoạt cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể từng cộng đồng nông thôn Việt Nam. Quy hoạch phát triển các ngành, các lĩnh vực có liên quan đến sử dụng đất phải dựa trên nền tảng quy hoạch sử dụng đất, kết hợp quy hoạch từ trên xuống bằng các định hướng chiến lược và ưu tiên phạm vi vùng với nhu cầu của cộng đồng thông qua quy hoạch phát triển và xây dựng kế hoạch cấp thôn bản. Phương pháp cùng tham gia, phân tích hệ thống canh tác cần được vận dụng vào đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội và thể chế chính sách của Việt Nam. Hệ thống canh tác trên đất dốc, quan điểm sử dụng đất bền vững là những giải pháp quan trọng và là cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô.
  14. 10 1.2. Ở Việt Nam 1.2.1. Một số nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ Ở Việt Nam, các vấn đề về nghiên cứu đất đai, quy hoạch sử dụng đất được bắt đầu từ rất sớm. Từ thế kỷ 15, Lê Quý Đôn đã tổng kết những kinh nghiệm của mình về canh tác nông nghiệp trong “Vân Đài loại ngữ” nhằm giúp người dân đạt năng suất cao nhất trong sản xuất nông nghiệp. Đầu thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng đất đã được các nhà khoa học Pháp nghiên cứu phát triển với quy mô rộng lớn. Giai đoạn 1955 – 1975, công tác điều tra phân loại đã được tổng hợp một cách có hệ thống trong phạm vi toàn miền Bắc. Nhưng đến sau năm 1975 các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất. Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986; Đỗ Đình Sâm, 1994...). Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu biện pháp đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất, công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác sử dụng đất. Trong tài liệu “Sử dụng đất tổng hợp và bền vững”, Nguyễn Xuân Quát [19] đã phân tích tình hình sử dụng đất đai cũng như mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững, mô hình khoanh nuôi và phục hồi rừng ở Việt Nam. Đồng thời đề xuất tập đoàn cây trồng thích hợp cho các mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững. Trong tài liệu ''Đất rừng Việt Nam'', Nguyễn Ngọc Bình [4] đã đưa ra những quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những đặc điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam. Về luân canh, tăng vụ, trồng xen, trồng gối vụ để sử dụng hợp lý đất đai đã được nhiều tác giả: Phạm Văn Chiểu (1964); Bùi Huy Đáp (1977); Vũ Tuyên Hoàng (1987); Lê Trọng Cúc (1971); Nguyễn Ngọc Bình (1987); Bùi Quang Toản (1991) đã đề cập tới việc lựa chọn hệ thống cây trồng phù hợp trên đất dốc vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam. Năm 1996, công trình “Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp ổn định ở vùng trung du và miền núi nước ta”, Bùi Quang Toản đã đề xuất sử dụng đất nông nghiệp
  15. 11 vùng đồi núi và trung du. Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) trong chương trình tập huấn hỗ trợ LNXH của trường Đại học Lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm về hệ thống sử dụng đất và đề xuất một số hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất bễn vững trong điều kiện Việt Nam [4] . Trong đó, các tác giả đã đi sâu phân tích về: - Quan điểm về tính bền vững. - Khái niệm tính bền vững và phát triển bền vững. - Hệ thống sử dụng đất bền vững. - Kỹ thuật sử dụng đất bền vững. - Các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống và kỹ thuật SDĐ. Nghiên cứu hệ thống canh tác ở nước ta được đẩy mạnh hơn từ sau khi đất nước thống nhất, Tổng cục Địa chính đã tiến hành quy hoạch đất đai 3 lần vào các năm 1978, 1985 và 1995. Căn cứ vào điều kiện đất đai, ngành lâm nghiệp đã phân chia đất đai toàn quốc thành 7 vùng sinh thái. Trong ''Tóm tắt báo cáo khảo sát đợt 1 về LNXH'' nhóm luật và chính sách (1998) của trường Đại học Lâm nghiệp vấn đề hệ thống chính sách và những quy định về quản lý sử dụng đất, cũng như hệ thống quản lý sử dụng đất các cấp được đề cập khá đầy đủ và chi tiết. Tài liệu tập huấn "Những quy định và chính sách về quản lý sử dụng đất'' của Trần Thanh Bình (1997), “Các chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế trang trại”. Qua việc nghiên cứu hệ thống nông nghiệp tại khu vực đồng bằng sông Hồng, Đào Thế Tuấn (1998) đã chỉ ra được những vấn đề tồn tại, nguyên nhân của nó và đề xuất các mục tiêu và giải pháp khắc phục. Trên cơ sở tổng hợp các luận điểm về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước các tác giả Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Phạm Chí Thành, Phạm Đức Viên (1993) đã xây dựng giáo trình hệ thống nông nghiệp. Ngoài phần hệ thống hoá nông nghiệp, các tác giả đã đề xuất chiến lược phát triển, dự kiến cấu trúc và thứ bậc hệ thống nông nghiệp công trình hỗ trợ đắc lực cho công tác nông nghiệp trên cả 2 phương diện lý luận và thực tiễn.
  16. 12 Năm 1994, Tổng cục Địa chính lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 1995 - 2000 trên quy mô cả nước. Trong đó việc lập kế hoạch giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác cũng được đề cập tới. Báo cáo đánh giá tổng quát hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển đến năm 2000 làm căn cứ để các địa phương, các ngành thống nhất triển khai công tác quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất. Năm 1996, tác giả Trần An Phong nghiên cứu các mô hình sử dụng đất dốc đã đi đến kết luận biện pháp sử dụng đất có hiệu quả là bố trí một chế độ thâm canh hợp lý, triệt để lợi dụng nước trời, áp dụng các biện pháp canh tác nhằm bảo vệ, gĩư gìn độ ẩm tối đa trong các lớp đất đảm bảo cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Năm 1997, Chương trình tập huấn dự án hỗ trợ lâm nghiệp xã hội của trường Đại học Lâm nghiệp đã đề cập đến các phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân. Các tác giả: Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Nghĩa Biên và Trần Ngọc Bình đã phối hợp với các chuyên gia trong và ngoài nước biên soạn tài liệu với những vấn đề chính như sau: - Các khái niệm và phương pháp tiếp cận trong quá trình tham gia. - Các công cụ của phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân. - Tổ chức quá trình đánh giá nông thôn. - Thực hành tổng hợp. Tác giả Trần Hữu Viên [38] đã xây dựng tài liệu tập huấn về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân đã kết hợp phương pháp quy hoạch sử dụng đất trong nước và của một số dự án quốc tế đang áp dụng tại một số vùng có dự án ở Việt Nam. Trong đó, tác giả đã trình bày về khái niệm và nguyên tắc chỉ đạo quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia. Trong tài liệu hướng dẫn công tác quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân, Đoàn Diễm (1997) đã tập trung vào các chủ đề sau: - Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam. - Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp của dự án GCP/VIE/024/ITA.
  17. 13 - Những tồn tại của quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam và thế giới. - Kiến nghị phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp đơn giản có sự tham gia của người dân. Tác giả Ngô Đình Quế và Đinh Thanh Giang, năm 2001 nghiên cứu về mô hình canh tác nương rẫy hợp lý, nhằm nâng cao năng suất cây trồng, duy trì sản xuất của đất nương rẫy, thúc đẩy quá trình phục hồi độ phì đất bỏ hoá. Tác giả cũng kết luận cùng với các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, các giống cây trồng mới cho năng suất cao, phẩm chất tốt cần đưa vào sản xuất thì mô hình luân canh nương rẫy. 1.2.2. Một số nghiên cứu về việc vận dụng phương pháp quy hoạch sử dụng đất vào thực tiễn ở Việt Nam Trong những năm gần đây việc nghiên cứu và thử nghiệm về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp được tiến hành với quy mô rộng rãi. Việc nghiên cứu thí điểm đầu tiên được tiến hành tại các xã: Tử Nê, huyện Tân Lạc, xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình vào năm 1993 do Dự án đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp thực hiện. Tổng hợp những bài học kinh nghiệm từ dự án cho thấy công tác quy hoạch sử dụng đất được coi là một nội dung chính cần được thực hiện trước khi giao đất trên cơ sở tôn trọng tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao đất, có sự tham gia tích cực của người dân, già làng, trưởng bản và chính quyền xã. Cần phải có kế hoạch sử dụng chi tiết, tránh được các mâu thuẫn của cộng đồng phát sinh sau quy hoạch. Chương trình phát triển Nông thôn miền núi Việt Nam - Thụy Điển giai đoạn 1996 - 2001 trên phạm vi 5 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang và Phú Thọ đã tiến hành thử nghiệm công tác quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã trên cơ sở kế hoạch phát triển cấp thôn bản và hộ gia đình. Phương pháp quy hoạch sử dụng đất trong giai đoạn này đã căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người sử dụng đất với cách tiếp cận từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi cao hơn. Năm 1996, tác giả Vũ Văn Mễ và Desloges đã thử nghiệm phương pháp quy hoạch sử dụng đất có người dân tham gia tại Quảng Ninh đã đề xuất 6 nguyên tắc
  18. 14 và các bước cơ bản trong quy hoạch sử dụng đất trong đó cấp xã đóng vai trò phát triển trong phương pháp quy hoạch. Sáu nguyên tắc đó là: - Kết hợp hài hoà giữa ưu tiên của Chính phủ và nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân địa phương; - Tiến hành trong khuôn khổ luật định hiện hành và các nguồn lực hiện có tại địa phương; - Đảm bảo tính công bằng, chú ý đến cộng đồng dân tộc miền núi, nhóm người nghèo và vai trò của phụ nữ; - Đảm bảo phát triển bền vững; - Đảm bảo nguyên tắc cùng tham gia; - Kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng. Khi thử nghiệm phương pháp này cho các tỉnh Thừa Thiên Huế, Gia Lai và Sa Đéc tác giả đã cho rằng quy hoạch cấp xã phải dựa trên tình trạng sử dụng đất hiện tại, tiềm năng sản xuất của đất, các quy định của Nhà nước và nhu cầu nghĩa vụ của nhân dân. Xem xét mọi vấn đề liên quan đến đất đai và sử dụng tài nguyên cho thấy cách tiếp cận tổng hợp và toàn diện này phù hợp và xu thế chung của thế giới hiện nay về áp dụng các phương pháp quy hoạch tổng hợp. Trong 2 năm năm 1996 và 1997, trong quá trình triển khai dự án quản lý nguồn nước hồ Yên Lập có sự tham gia của người dân tại huyện Hoành Bồ tỉnh Quảng Ninh. Tác giả thử nghiệm phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia của người dân để quy hoạch lâm - nông nghiệp cho 3 xã: Bằng Cả, Quảng La và Dân Chủ, phương pháp PRA được sử dụng để quy hoạch lâm - nông nghiệp và xây dựng dự án cấp xã, thôn cho 5 lĩnh vực: Quy hoạch lâm nghiệp, cây ăn quả cho quản lý rừng phòng hộ, quy hoạch trồng trọt, quy hoạch chăn nuôi và đồng cỏ, kế hoạch phát triển thuỷ lợi lập kế hoạch mạng lưới tín dụng thôn bản hỗ trợ của dự án xã. Sau 3 năm thực hiện cho thấy bản quy hoạch phù hợp với tình hình hiện tại là cơ sở vững chắc cho lập kế hoạch tác nghiệp hàng năm. Tuy nhiên những hạn chế do thiếu nghiên cứu về đất, phân tích hệ thống canh tác dẫn đến việc lựa chọn cây trồng chưa hợp lý. Kinh nghiệm này đang được đúc rút kinh nghiệm cho những năm tiếp theo của dự án triển khai trên 4 xã mới.
  19. 15 Năm 1996, trên cơ sở tổng kết các kinh nghiệm nhiều nơi Cục Kiểm lâm cho ra tài liệu hướng dẫn “Nội dung, biện pháp và trình tự tiến hành giao đất lâm nghiệp trên địa bàn xã’’. Đây là tài liệu sửa đổi lần thứ 2 có nhiều bổ sung vào tài liệu năm 1994, nó đáp ứng phần nào về những hướng dẫn cơ bản về nội dung và nguyên tắc. Những yêu cầu về chuyên môn và phương pháp trong hướng dẫn này còn mang nhiều phương pháp điều tra truyền thống, phù hợp với điều tra rừng trước đây. Chương trình hợp tác Việt - Đức về phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp tại 2 xã của 2 huyện Yên Châu thuộc tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa thuộc tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) trên cơ sở hướng dẫn của Chi cục Kiểm lâm với cách làm 6 bước đã lấy cấp thôn bản làm đơn vị quy hoạch và giao đất lâm nghiệp và áp dụng cách tiếp cận LNXH đối với cộng đồng dân tộc vùng cao có thể là kinh nghiệm tốt. Sự khác biệt với chương trình khác là lấy cấp thôn bản làm đơn vị quy hoạch phù hợp với đặc thù vùng cao, phù hợp với kết quả nghiên cứu xã hội và cộng đồng của Donovan và nhiều người khác, năm 1997 ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam Từ những kết quả nghiên cứu “Đề tài’’ của Nguyễn Bá Ngãi cùng với nhóm tư vấn của dự án khu vực Lâm nghiệp Việt nam - ADB đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch và xây dựng tiểu dự án cấp xã. Mục tiêu là đưa ra một phương pháp quy hoạch lâm - nông nghiệp cấp xã có sự tham gia của người dân để xây dựng tiền Dự án lâm - nông nghiệp cho 50 xã của 4 tỉnh: Thanh Hoá; Gia lai; Phú Yên và Quảng Trị. Kinh nghiệm rút ra từ việc áp dụng phương pháp này là: - Việc tiến hành quy hoạch phải dựa trên kết quả đánh giá và điều tra nguồn lực một cách chi tiết và đầy đủ. - Quy hoạch sử dụng đất là cơ sở quan trọng cho quy hoạch các ngành và các lĩnh vực, đặc biệt là quy hoạch nông, lâm nghiêp. - Tiến hành phân tích hệ thống canh tác làm cơ sở cho việc lựa chọn cây trồng và phương thức sử dụng đất.
  20. 16 - Quy hoạch lâm - nông nghiệp cấp xã phải được tiến hành từ lập kế hoạch cấp thôn bản bằng phương pháp có sự tham gia trực tiếp của người dân. - Tổng hợp và cân đối kế hoạch cho phạm vi cấp xã trên cơ sở: Định hướng phát triển chiến lược của cấp huyện, cấp tỉnh. Khả năng hỗ trợ từ bên ngoài; đối thoại và thống nhất trực tiếp giữa đại diện các cộng đồng với nhau và giữa cộng đồng với cán bộ của tỉnh, huyện và dự án. - Có sự nhất trí chung của toàn xã thông qua các cuộc họp cộng đồng cấp thôn hoặc xóm. Trong đầu những năm 1990, vấn đề quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp được nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu. Nghiên cứu cuả Rêichenberg, 1992 cho rằng Việt Nam Chưa có quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô, được xây dựng dựa trên cơ sở xem xét tất cả các khía cạnh của tất cả các ngành trong tương lai Các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho rằng quan điểm quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp cấp địa phương nên đi theo hướng sau: - Tiến hành nghiên cứu khả năng chuyển từ quy hoạch nông lâm nghiệp chủ yếu dựa trên chức năng sử dụng đất sang dựa trên tiềm năng đất đai - Rà soát và xem lại hệ thống chính sách nhằm hướng tới đa mục đích sử dụng đất bằng đa dạng hoá các hoạt động sản xuất trong mỗi bản quy hoạch của cộng đồng. - Gắn 2 quá trình quy hoạch và giao đất và coi đó là hai bộ phận có quan hệ chặt chẽ để làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp ở mỗi địa phương và mỗi cộng đồng. - Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp cùng tham gia trong quá trình quy hoạch, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, xác định và phân tích rõ các chủ thể trong quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp cấp xã. Trong giai đoạn 2000 - 2005, Dự án phát triển nông thôn Sơn La, Lai Châu do Liên minh Châu Âu tài trợ bằng nguồn vốn ODA. Mục tiêu của Dự án là cải thiện an toàn lương thực ở khu vực Miền núi phía Bắc Việt Nam thong qua việc sử dụng bền vững và hữu ích nguồn tài nguyên thiên nhiên ở hai tỉnh Sơn La và Lai Châu. Những hoạt động chính của Dự án đó là: Quy hoạch sử dụng đất và giao đất, quản
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2