intTypePromotion=1
zunia.vn Tuyển sinh 2024 dành cho Gen-Z zunia.vn zunia.vn
ADSENSE

Nhà nước Lê - Trịnh với việc lập thương điếm của thương nhân nước ngoài ở phố hiến và Thăng Long - Kẻ Chợ thế kỷ XVII

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

32
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong các chính sách của nhà nước Lê - Trịnh với thương nhân nước ngoài khi đến giao thương với nước ta thế kỷ XVII thì chính sách lập thương điếm là một vấn đề rất quan trọng. Bởi thương điếm đóng vai trò sống còn với quá trình gom hàng, tập kết hàng, dỡ hàng và cũng là nơi đại diện cho các thương nhân nước ngoài tại nước buôn bán sở tại.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nhà nước Lê - Trịnh với việc lập thương điếm của thương nhân nước ngoài ở phố hiến và Thăng Long - Kẻ Chợ thế kỷ XVII

  1. JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE Social Sci. Science., 2010, Vol. 55, No. 7, pp. 88-98 NHÀ NƯỚC LÊ - TRỊNH VỚI VIỆC LẬP THƯƠNG ĐIẾM CỦA THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI Ở PHỐ HIẾN VÀ THĂNG LONG - KẺ CHỢ THẾ KỶ XVII Phạm Thị Nết Học viện Chính trị Hành chính khu vực I Hoàng Thị Nga Trường THPT Chuyên - Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Mở đầu Trong các chính sách của nhà nước Lê - Trịnh với thương nhân nước ngoài khi đến giao thương với nước ta thế kỷ XVII thì chính sách lập thương điếm là một vấn đề rất quan trọng. Bởi thương điếm đóng vai trò sống còn với quá trình gom hàng, tập kết hàng, dỡ hàng và cũng là nơi đại diện cho các thương nhân nước ngoài tại nước buôn bán sở tại. Vì vậy, chúng tôi muốn tìm hiểu cụ thể hơn về các quy định của nhà nước Lê - Trịnh đối với việc lập thương điếm của thương nhân nước ngoài tại Phố Hiến và Thăng Long - Kẻ Chợ thế kỷ XVII. Qua đó, bước đầu chỉ ra một vài đặc điểm về chính sách của chính quyền phong kiến Đàng Ngoài với việc lập thương điếm nói riêng và ngoại thương nói chung. 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Khái niệm “thương điếm” và vai trò của thương điếm với thương nhân nước ngoài a. Khái niệm thương điếm. Thương điếm xuất phát từ thuật ngữ “Entrepôt”, có nghĩa là một trụ sở, một chi nhánh, một đại lý thương mại, một kho hàng tạm thời, trung tâm trung chuyển và phân phối hàng hóa. Thương điếm xuất hiện trong lịch sử kinh tế nước ta từ thời trung đại. Nó là nơi đặt cửa hàng, kho chứa hàng hóa, phòng làm của thương nhân nước ngoài tại nơi thường xuyên đến buôn bán. Liên quan đến khái niệm “thương điếm” là khái niệm “Công ty Đông Ấn”. Công ty Đông Ấn thực chất là các công ty thương mại của một số nước châu Âu hoạt 88
  2. Nhà nước Lê - Trịnh với việc lập thương điếm của thương nhân... động ở phương Đông (chủ yếu ở Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á). Một số công ty Đông Ấn hoạt động mạnh trong thế kỷ XVII ở nước ta như: Công ty Đông Ấn Hà Lan VOC (Vereenigde Oost-Indische Compagnie), công ty Đông Ấn Pháp CIO (La Compagnie fran¸caise des Indes orientales), công ty Đông Ấn Anh EIC (English East India Company). Về nguyên tắc, đó là những công ty của các tập đoàn tư bản tư nhân, nhưng có sự bảo trợ từ phía chính phủ. Các công ty này có chức năng thám hiểm, thăm dò, bang giao chính trị, thực hiện buôn bán, thậm chí là trợ giúp vào việc can thiệp quân sự và chiếm đất. Công ty Đông Ấn hoạt động thông qua các thương điếm đặt tại các nước phương Đông mà thương nhân phương Tây đến buôn bán, như: Thương điếm Hirado của Anh ở Nhật, thương điếm Kẻ Chợ của Hà Lan ở Đàng Ngoài. . . Công ty Đông Ấn và thương điếm cùng có chức năng là các trụ sở, đại lý thương mại của các nước châu Âu đặt tại phương Đông. Nhưng, giữa công ty và thương điếm có những điểm khác nhau nằm ở quy mô và phạm vi hoạt động. Công ty Đông Ấn có quy mô lớn hơn, nó như một công ty mẹ, còn thương điếm đóng vai trò như một chi nhánh. Công ty Đông Ấn thực hiện các chức năng căn bản: chính trị và kinh tế, còn thương điếm chỉ dừng lại ở chức năng kinh tế, hỗ trợ cho hoạt động của công ty mẹ. b. Vai trò của thương điếm. Thương điếm thực tế đã xuất hiện ở nước ta từ lâu. Vân Đồn được nhà Lý chú ý tới cũng là do một số thương nhân nước lân cận đến đặt thương điếm buôn bán ở đó. Vào thế kỷ XVII, khi ngoại thương nước ta không đơn thuần chỉ giao thương với các bạn hàng truyền thống ở phương Đông như: Nhật Bản, Trung Quốc, Mã Lai. . . mà đã xuất hiện thương nhân nhiều nước phương Tây như: Hà Lan, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha. . . thì thương điếm là yếu tố thực sự cần thiết. Vai trò của thương điếm tại Đàng Ngoài được thương nhân Hà Lan khái quát cụ thể như sau: - Có thương điếm tức là những người sản xuất tơ yên tâm, không còn lo ngại là lái Hà Lan vụ mùa sau có còn trở lại buôn bán nữa hay không, mà không dễ dàng bỏ việc sản xuất tơ để đi sản xuất đường. - Có thương điếm, không còn lo chuyện mỗi khi chuyến tàu đến lại phải giao thiệp, đánh bạn, làm quen, không phải lễ lạt chè lá. - Có thương điếm không cần phải cập rập, vất vả cứ đến hết gió mùa là tàu nhất định phải nhổ neo rời đi, mặc dầu là đang giữa mùa buôn bán, cứ buôn bán suốt năm tích lại ở thương điếm là tiện nhất. 89
  3. Phạm Thị Nết và Hoàng Thị Nga - Có thương điếm, công việc chạy rất nhanh, vì trước kia mỗi lần tàu đến là mất hàng tháng chầu chực trong triều. - Có thương điếm, trong một chừng mực nào đó được sự tin cậy, tín nhiệm của dân bản xứ. Với thương nhân nước ngoài, việc lập thương điếm xuất phát từ mong muốn có nhiều điều kiện thuận lợi để mua hàng, giữ hàng và bán được hàng một cách dễ dàng và có lời nhiều nhất. Đặc biệt, từ chỗ có thương điếm, thương nhân nước ngoài mới có điều kiện đặt hàng, giấm hàng, cất hàng thuận tiện, hơn nữa đi sâu tìm hiểu phong tục, tập quán, tính nết, yêu cầu của khách hàng. Nó cũng hạn chế được trở ngại của thiên nhiên ảnh hưởng tới mùa sản xuất và mùa đi biển. Thương nhân nước ngoài ý thức được nhiều lợi ích của việc có một thương điếm của công ty mình ở Đàng Ngoài trong việc buôn bán như vậy nên với họ yêu cầu đặt thương điếm là cần thiết. Tuy nhiên, trong chính sách của nhà nước Lê - Trịnh với vấn đề đặt thương điếm của các công ty, thương nhân nước ngoài ở từng thời điểm không hoàn toàn giống nhau. Nhiều quy định không được ban hành bằng văn bản pháp quy mà chủ yếu do Chúa tự quy ước. Vì vậy, đôi khi việc cho phép thương nhân nước ngoài đặt thương điếm cũng rất cảm tính. Khảo sát lịch sử chính sách của nhà nước Lê - Trịnh đối với vấn đề đặt thương điếm có thể thấy vẫn còn nhiều điểm cần phải làm rõ. 2.2. Nhà nước Lê - Trịnh với việc đặt thương điếm tại Phố Hiến Trong bối cảnh chung của thế giới và khu vực, vào thế kỷ XVII, nhà nước Lê - Trịnh đã cho phép một số thương nhân đặt thương điếm tại phố Hiến như: thương nhân Hà Lan, Anh, Pháp. . . Lịch sử Phố Hiến hay còn gọi là phố Khách gắn liền với lịch sử ngoại thương phát triển nhưng thương nhân nước ngoài không được đến buôn bán trực tiếp kinh thành (Thăng Long - Kẻ Chợ). Trước đó, thương nhân nước ngoài đến buôn bán ở nước ta vẫn phải tập trung ở Vân Đồn. Vân Đồn mỗi ngày một phồn thịnh, đến thế kỷ XV, thương nhân Nhật đến đây mua tơ đã mạnh dạn vào tận trong đất liền, tới thẳng nơi sản xuất tơ là Thăng Long. Sau những lần như vậy, tất cả các thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm đều xin lên nhà nước Lê - Trịnh xin được buôn bán trong đất liền. Lúc này, nhận thấy nguy cơ xâm chiếm là không có, một mặt tình hình kinh tế thúc đẩy nên nhà nước phong kiến Lê - Trịnh đã cho các thương nhân tập trung ở một nơi không cách xa kinh thành, đó là Phố Hiến. Được sự cho phép của chúa Trịnh, lần lượt các thương điếm của thương nhân nước ngoài được lập ở Phố Hiến. Phố Hiến nằm phía Đông, cách kinh thành 128 dặm, tức 80 km. Việc đi lại giữa Phố Hiến và Thăng Long - Kẻ chợ rất thuận lợi, vừa có con đường bộ, vừa có đường sông. Năm 1637, thương nhân Hà Lan được 90
  4. Nhà nước Lê - Trịnh với việc lập thương điếm của thương nhân... Chúa cho phép đặt thương điếm, gần 30 năm sau là: thương nhân Anh (năm 1673) (xem thêm [6]), thương nhân Pháp (năm 1680). Các thương nhân châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm cũng xây dựng ở đây các thương điếm của họ. Về tổ chức thương điếm thì chúa Trịnh không quy định một cách cụ thể. Thường thì ngoài giám đốc, phó giám đốc thương điếm, Chúa cho phép trong thương điếm có một số lao công và một số lính để phục vụ cho việc buôn bán, khuân vác, chở hàng hóa. Trong thương điếm Hà Lan ở Phố Hiến người ta thấy có 6 lính trông coi và bảo vệ thương điếm. Tuy nhiên, sau khi được đặt thương điếm rồi thì việc đi lại cũng do Chúa quy định, chẳng hạn: “giám đốc thương điếm mỗi khi đi đâu đều được mang theo hai tên lính đi hộ vệ, đeo súng chứ không được cầm giáo” [9;169]. Ngoài việc chịu sự kiểm soát đi lại, các thương điếm phải đáp ứng một số yêu cầu của chúa Trịnh và các quan lại. Tất nhiên, các thương điếm này chấp nhận sự “hạch sách” đó để đổi lấy việc làm ăn lâu dài. Nhiều tài liệu đã phản ánh thực trạng trên, chẳng hạn ngày 26/8/1672, thương điếm Anh ở Phố Hiến họp lần đầu tiên để quy định công việc trị sự của thương điếm. Họ phân công nhau: một người giữ việc lễ vật, biếu tặng, hai người giữ kho hàng: “Cũng trong phiên họp này họ quyết định đòi công ty của họ phải cung cấp cho họ một số rượu vang và thực phẩm nhiều hơn để họ phải thiết đãi, mua chuộc quan lại vì chính bản thân họ đã chứng nghiệm thấy cần phải như thế để khỏi phải thua kém bọn lái Hà Lan rất chịu khó tốn rượu cho quan lại” [9;170]. Ngay cả với thương nhân Hà Lan - người vẫn được coi là giành được nhiều ưu ái của chúa Trịnh cũng nhiều lần phải đáp ứng những yêu cầu của Chúa, để lấy lòng Chúa và khi họ không làm vừa ý Chúa, giám đốc thương điếm của họ vẫn bị cầm tù như bình thường. Đó là trường hợp của viên giám đốc cuối cùng của thương điếm Hà Lan ở Phố Hiến là Jacob Van Loo, trước khi về nước người này đã bị Trịnh Căn bắt nhốt vào tù vì không cung cấp được hàng mà Chúa đã đặt trước. Do chính sách cho phép lập thương điếm ở Phố Hiến của nhà nước Lê - Trịnh đối với các thương nhân nước ngoài nên vào năm 1688, theo mô tả của William Dampier: “Phố Hiến có 200 nóc nhà. Trụ sở ban đầu của thương quán Anh ở Phố Hiến là nhà tranh, nhưng sau đó là một số dinh thự, gồm có thương quán Hà Lan và Anh, nhà của hai viên giám mục người Pháp và phố của Hoa thương đã được xây dựng bằng gạch” [1;30]. Để đảm bảo an ninh và điều hành các hoạt động buôn bán, chính quyền Lê - Trịnh đã phái cử nhiều quan chức về trấn thủ ở đây, thậm chí còn cho lập một đồn binh. Vào cuối thế kỷ XVII, quan trấn thủ ở đây là Lê Đình Kiên, trị nhậm suốt 40 năm. Ông không chỉ chăm lo đến việc bảo đảm an ninh và quản lý hành chính mà còn trực tiếp tham gia điều hành một số hoạt động kinh tế ở đây. Dampier cũng đưa ra nhận xét về ông: “Viên trấn thủ hoặc đại diện của ông ta đã cấp giấy thông 91
  5. Phạm Thị Nết và Hoàng Thị Nga hành cho các tàu thuyền xuôi ngược, ngay cả một chiếc thuyền nhỏ cũng không khởi hành được nếu không có giấy phép” [1;35]. Do vậy, dưới góc độ an ninh, Phố Hiến như một trạm kiểm soát vòng ngoài bảo vệ kinh thành nhà nước Lê - Trịnh là Kẻ Chợ. Còn dưới góc độ kinh tế, thời kỳ đầu, Phố Hiến điều tiết các hoạt động ngoại thương và ở mức độ nào đó có thể đại diện cho chính quyền Lê - Trịnh giao dịch với thương nhân nước ngoài. Và mặc dù không hề có văn bản pháp luật quy định cụ thể thì nhà nước Lê - Trịnh vẫn để mắt tới việc lập thương điếm ở Phố Hiến và có nhiều động thái can thiệp, quản lý. 2.3. Nhà nước Lê - Trịnh với việc đặt thương điếm ở Thăng Long - Kẻ Chợ Dù đã đặt được thương điếm tại Phố Hiến, nhưng đây cũng chỉ là một khu vực lân cận, cách kinh thành 80 km nên về lâu dài các thương nhân nước ngoài đều không “mặn mà” ở đây. Họ muốn có thương điếm đặt ở Thăng Long - Kẻ Chợ, nơi vừa là kinh đô của Đàng Ngoài, vừa là trung tâm diễn ra mọi hoạt động buôn bán, trao đổi, kể cả với triều đình, quan lại cũng như với các thợ thủ công và thương nhân bản địa. Nhưng kế tục các chính sách ngoại thương từ thời Lý, Trần, Lê sơ, chưa bao giờ thương nhân nước ngoài được phép vào tận kinh thành để giao dịch buôn bán và cư trú ở đó, nên thời kỳ đầu nhà nước Lê - Trịnh cũng ban hành lệnh cấm đặt thương điếm ở Kẻ Chợ. Mà nguyên nhân chủ yếu là chúa Trịnh lo giữ xã tắc, không muốn cho thương nhân nước ngoài vào buôn bán tự do để dò la, thám thính về mặt chính trị. Tuy nhiên, qua thời gian, Chúa thấy động thái chính trị của các thương nhân nước ngoài gần như không có, hơn nữa những lễ vật hậu hĩnh, những đơn đặt hàng đầy hứa hẹn đã khiến cho Chúa thay đổi. Dần dần, chúa Trịnh cho phép các thương nhân lập thương điếm ở ngay Kẻ Chợ - trung tâm chính trị, kinh tế của Đàng Ngoài. Thương điếm đầu tiên của thương nhân phương Tây được mở ở Kẻ Chợ là thương điếm Hà Lan của công ty VOC. Vì vậy, chúa Trịnh Căn từng nhắc đến ưu ái đặc biệt này trong thư gửi Toàn quyền Hà Lan ở Batavia: “Trong khi tất cả các lái nước ngoài đến Đàng Ngoài đều phải trú ngụ ở ngoài phạm vi Kẻ Chợ, riêng người Hà Lan được phép đến ở ngay kinh thành và được cả phép xây dựng nhà bằng đá, như vậy chứng tỏ sự thiên vị của Chúa đối với họ” [9;172]. Với các thương nhân khác, việc xin lập thương điếm ở Kẻ Chợ rất khó khăn. Chúa Trịnh không thoải mái với tất cả các thương nhân khác như với thương nhân Hà Lan. Thực tế, để đổi lấy sự cho phép của Chúa với việc đặt thương điếm ở Kẻ Chợ, người Hà Lan đã hỗ trợ chúa Trịnh về mặt quân sự trong cuộc chiến tranh với Đàng Trong. Vì vậy, với người Anh, mặc dù cũng xin phép đặt thương điếm ở Kẻ 92
  6. Nhà nước Lê - Trịnh với việc lập thương điếm của thương nhân... Chợ, nhưng chúa Trịnh không đồng ý. Thương nhân Anh phải mất nhiều thời gian, công sức đi lại và cả tiền bạc để đạt được mục đích đó. Trước khi xin đặt thương điếm ở Kẻ Chợ, người Anh đã đặt được thương điếm ở Phố Hiến. Nhưng đó là vào cuối thế kỷ XVII (1673), lúc này Phố Hiến rất nghèo và vắng vẻ. Người Anh đã than phiền về nó rất nhiều: “Nó quá xa trung tâm thương mại (Kẻ Chợ), chúng tôi chẳng thể làm gì được, chẳng có thương nhân nào đến buôn bán với chúng tôi cả” [3;30]. Do đó, thương nhân Anh đã nỗ lực vận động để được chuyển thương điếm lên Kẻ Chợ nhưng chúa Trịnh không cho phép người ngoại quốc sống ở kinh thành trừ người Hoa, Nhật Bản và người Hà Lan. Trong giai đoạn 1672 - 1682, những lời thỉnh cầu của người Anh lên chúa Trịnh đều bị từ chối. Theo nhật ký của W. Gyfford thì sau 5 năm buôn bán, thương nhân Anh lại đặt lại vấn đề một lần nữa để xin chúa Trịnh cho đặt thương điếm ở Kẻ Chợ. Cho tới tháng 5/1679, thương nhân Anh mới được phép đến trú ngụ ở Kẻ Chợ, nhưng lại chưa được phép xây nhà. Sau đó, họ bị bọn quan đòi 2000 lạng bạc mới cho đất xây nhà. Tuy nhiên, sự vòi vĩnh này làm thương nhân Anh mất hết kiên nhẫn. Họ quyết định không xây nữa và thuê lại của một phụ nữ người Bồ Đào Nha là Monica Dabada. Đến cuối tháng 5/1683, sau 9 năm buôn bán ở Đàng Ngoài, Gyfford mới được Trịnh Căn cho phép xây nhà làm thương điếm ở Kẻ Chợ. Tuy nhiên, thương điếm Anh ở đây không tồn tại được bao lâu thì đến 30/11/1697, họ quyết định bỏ thương điếm ở đó. Theo lời kể của William Dampier về 2 thương điếm nổi tiếng nhất ở Kẻ Chợ: “Thương điếm Anh ở Kẻ Chợ không có nhiều người, tọa lạc một cách yên bình ở phía Bắc của thành phố và quay mặt ra ngoài sông. Đây là một ngôi nhà thấp, trông đẹp mắt và là ngôi nhà đẹp nhất trong thành phố. Ngôi nhà được xây song song với con sông, ở mỗi đầu hồi lại có các ngôi nhà nhỏ hơn, mang các công dụng khác nhau như: nhà bếp, nhà kho. . . Ở góc sân phía bờ sông có một cột cờ treo cờ Anh trong các dịp lễ vì người Anh có thói quen treo quốc kỳ trong ngày chủ nhật cũng như các ngày lễ tiết khác” [1;67,68]. Ông cũng mô tả thương điếm Hà Lan ở giáp thương điếm Anh ở mạn Nam và mô tả thương điếm của họ không rộng như thương điếm Anh dù họ đã đến đây trước nhiều năm. Tuy nhiên, sau khi được phép xây dựng thương điếm rồi cũng không phải là yên trí. Ngày 22/12/1669, khi giám đốc thương điếm Hà Lan là Phillip Schillmans từ Batavia trở về Đàng Ngoài thì ông thấy thương điếm của mình “hoàn toàn bị phá hủy” vì Trịnh Tráng lấy cớ cần miếng đất có thương điếm đó để làm trường bắn. Schillmans được chỉ cho một miếng đất khác làm trụ sở. Dù sao, thương điếm Hà Lan ở Phố Hiến và Kẻ Chợ cũng được chính quyền ưu ái, vì vậy, nó được hình thành sớm và tồn tại khá lâu, trải qua 13 đời giám đốc. 93
  7. Phạm Thị Nết và Hoàng Thị Nga Bảng 1. Danh sách các đời giám đốc thương điếm Hà Lan ở Phố Hiến và Kẻ Chợ [9;170] STT Thời gian Tên giám đốc thương điếm 1 1637 - 1640 Korel Hartsinck 2 1640 - 1647 Antony Van Brookorst 3 1647 - 1649 Philip Schileman 4 1649 - 1659 Nicolans de Voogel 5 1659 - 1663 Hendsik Baron 6 1663 - 1666 Léonard Morre 7 1666 - 1667 Devis Verdonk 8 1667 - 1668 Constantyn Rondt 9 1668 - 1672 Kornélis Valchender 10 1672 - 1677 Albert Brevink 11 1677 - 1687 Léonard du Moy 12 1687 - 1691 Jean Sibens 13 1691 - 1700 Jacob Van Loo Ở đây, vấn đề đặt ra là tại sao nhà nước Lê - Trịnh lại cho thương nhân nước ngoài đặt thương điếm tại Phố Hiến, thậm chí tận sâu trong kinh thành? Thực ra, bối cảnh chính trị lúc bấy giờ ở Đàng Ngoài cho thấy nhà nước Lê - Trịnh là 1 thể chế đặc biệt, chưa từng có trong lịch sử trước đó; nhà nước này trong quá trình tồn tại vốn phải lo đối phó với nhiều lực lượng chống đối như: nhà Mạc ở phía Bắc, nhà Nguyễn ở Đàng Trong. Do đó, nhà nước Lê - Trịnh cần thúc đẩy buôn bán, lấy đó là cái cớ để tranh thủ sự ủng hộ của lực lượng bên ngoài. Sự ưu ái của chúa Trịnh với thương nhân Hà Lan cũng giúp Chúa rất nhiều trong cuộc chiến tranh với Đàng Trong. Người Hà Lan không chỉ giúp đỡ đơn thuần về mặt vũ khí mà thậm chí họ còn tham gia trực tiếp trong đoàn quân của Chúa đi ra chiến trận trong hai năm 1642, 1643. Mặt khác, bối cảnh năng động của nền kinh tế khu vực và trong nước cũng đã lôi kéo, cuốn hút các nhà cầm quyền vào trong guồng quay của nền kinh tế đó. Từ chúa Trịnh cho đến các quan đại thần từ trên xuống dưới đều bằng cách này hay cách khác nhúng tay vào việc buôn bán, tìm cách xoay sở, ăn chặn của thương nhân. Ngoại thương lúc này không chỉ đem lại nguồn lợi cho nhà nước mà còn đem lại lợi lộc cho chính tầng lớp quý tộc, triều đình. C. Maybon đã nhận xét: “Các vua chúa kiếm được lời rất lớn trong các cuộc trao đổi này, không những chỉ vì họ nhận được những tặng phẩm thật đẹp và lấy cho mình phần quý báu nhất trong số hàng hóa được các tàu chở đến mà còn vì các tàu vào ra cảng đã bị đánh thuế khá nặng” [12;34]. Vì mong muốn việc buôn bán được lâu dài và thuận lợi, các công ty tư bản 94
  8. Nhà nước Lê - Trịnh với việc lập thương điếm của thương nhân... đã yêu cầu nhà nước Lê - Trịnh cho phép đặt thương điếm. Ban đầu còn dè dặt, e ngại, nhà nước chỉ cho phép đặt các thương điếm cách xa kinh thành như Phố Hiến. Sau này, do sự khẩn khoản mua chuộc của các công ty, do nhìn thấy món lợi lớn cũng như nhận thấy nguy cơ chính trị không nhiều, nhà nước đã cho phép xây dựng thương điếm ở trung tâm chính trị của Đàng Ngoài là Thăng Long - Kẻ Chợ. 2.4. Một số nhận xét về chính sách của nhà nước Lê - Trịnh về việc đặt thương điếm ở Phố Hiến và Thăng Long - Kẻ Chợ Qua việc khảo sát chính sách của nhà nước với việc lập thương điếm của thương nhân nước ngoài ở Phố Hiến và Kẻ Chợ thế kỷ XVII, chúng ta thấy nổi lên một số điểm sau: Thứ nhất, chính sách của nhà nước về vấn đề đặt thương điếm của thương nhân nước ngoài thời Lê - Trịnh còn chịu ảnh hưởng của chính sách ngoại thương của các thời kỳ trước đó, mà nổi bật nhất là từ tâm lý bảo vệ an ninh quốc gia. Thời kỳ đầu, nhà nước Lê - Trịnh đã đưa ra những chính sách, quy định cấm thương nhân phương Tây đi vào kinh thành, cấm họ nghỉ đêm và đặc biệt không cho họ đặt thương điếm tại đây. Tuy nhiên, khi nhận thấy nguy cơ ngoại xâm không có và thấy được nhu cầu đơn thuần về kinh tế thì chúa Trịnh cũng đã “cởi mở” hơn, cho phép thương nhân xây dựng thương điếm và buôn bán trực tiếp ở Kẻ Chợ. Điều này là một trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển của kinh tế ngoại thương ở Kẻ Chợ nói riêng và Đàng Ngoài nói chung, khiến cho thành phố Kẻ Chợ trở nên sầm uất, nhộn nhịp như những thành phố phương Tây như: Venice, Roma. . . Thứ hai, nhìn chung những quy định của nhà nước với việc lập thương điếm của thương nhân nước ngoài thể hiện sự không giống nhau và không nhất quán đối với từng thương nhân cụ thể. Thương nhân nào làm vừa lòng chúa Trịnh thì được lập thương điếm sớm, ngược lại nếu không được lòng chúa Trịnh thì việc xin lập thương điếm rất khó khăn. Điều này thể hiện rất rõ trong cách đối xử của chúa Trịnh với thương nhân Hà Lan và thương nhân Anh. Công ty VOC của Hà Lan dễ dàng xin Chúa cho lập thương điếm, đầu tiên ở Phố Hiến, sau được chuyển lên Kẻ Chợ. Trong khi đó, người Anh không dễ dàng để làm được điều tương tự. Thứ ba, sự hạn chế trong chính sách ngoại thương của nhà nước Lê - Trịnh thế kỷ XVII còn được thể hiện ở sự yếu kém trong công tác tổ chức và quản lý. Chúa Trịnh và quan lại thường xuyên nhũng nhiễu, yêu sách với các thương điếm. Để lập được thương điếm, các thương nhân đã phải tặng quà, lễ vật. Nhưng khi đã có thương điếm rồi, thì nhà nước vẫn tiếp tục gây khó dễ như: thu thuế nặng, đòi lại đất đã cho lập thương điếm. . . Những việc làm đó làm gián đoạn các hoạt động thương mại và làm giảm bớt nhiệt tình buôn bán của các công ty và thương nhân với Đàng Ngoài. Lái buôn Anh Baron đã từng nhận xét: “Sự buôn bán ở Đường Ngoài hiện nay đáng chán ghét nhất trong tất cả các vùng Ấn Độ”. Ngay cả với thương 95
  9. Phạm Thị Nết và Hoàng Thị Nga nhân Hà Lan thì đến năm 1700, họ cũng đóng cửa thương điếm, rời bỏ Đàng Ngoài đã nói “để cho những người châu Âu khác cái thú đi đến Đường Ngoài để mất lông, mất cánh ở đấy” [9;75]. Thứ tư, các chính sách ngoại thương của nhà nước Lê - Trịnh được thể hiện dưới dạng “lệnh cấm” hoặc là những yêu cầu của các Chúa, quan lại. Nó không được quy định cụ thể thành điều luật trong các bộ luật thành văn. Điều này đã được phản ánh trong lời than phiền của thương nhân Anh Gyfford: “không có luật lệ viết thành văn ở Đàng Ngoài, làm khó khăn rất nhiều cho người nước ngoài” [9, 126]. Thứ năm, chính sách cho phép thương nhân nước ngoài đặt thương điếm tại Phố Hiến và Thăng Long - Kẻ Chợ đã đưa đến một số ảnh hưởng tích cực đến hai đô thị này. Nó biến hai đô thị này thành hai đô thị lớn nhất và hoạt động thương mại sầm uất ở Đàng Ngoài: “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Thăng Long - Kẻ Chợ vốn là đô thị cổ nổi tiếng từ thế kỷ XI, nơi đây được nhiều thương nhân nước ngoài miêu tả như một thành phố ven sông. Giáo sĩ Marini đã ở đây trong khoảng thế kỷ XVII, có viết: “Sông bọc lấy thành thị trong một khuỷu rộng, nên việc buôn bán được dễ dàng, thuyền bè luôn luôn đi lại trên sông: sông còn luôn chia ra nhiều ngành, nhiều sông đào, rất có ích cho việc buôn bán giữa các tỉnh ngoài với kinh thành được thuận tiện” [11;144]. Thương nhân Baron có cửa hiệu ở Kẻ Chợ cuối thế kỷ XVII cũng nói về sông Hồng ở đây như sau: “Đối với kinh thành, con sông này cực kỳ thuận tiện, tất cả các thứ hàng hóa đều đem tới đây, đây là nơi thâu tóm mọi hoạt động trong nước với một số lượng thuyền bè vô tận đi đi lại lại khắp nước để buôn bán” [11;145]. Trong đô thị này, chính quyền chia thành 36 phường. Những phường ở Kẻ Chợ đều to và rộng nên mỗi phường lại chia thành hai khu vực tả và hữu, cho nên giáo sĩ Marini đã từng nhầm lẫn Kẻ Chợ 62 phường. Ông viết: “Các nhà ở Kẻ Chợ đều một tầng. . . có 62 khu phố mà mỗi khu rộng bằng một thành phố nhỏ của nước Ý. Các phố đều đầy thợ thủ công và thương nhân, để tránh nhầm lẫn mỗi đầu phố đều có một cái bảng hay dấu hiệu ghi rõ phố buôn bán cái gì. . . ” [13;380]. Còn về phố xá thì Baron miêu tả: “Có nhiều phố rộng rãi, quang đãng. . . Tất cả các thứ hàng bán trong thành phố đều mỗi thứ bán riêng ở một phố, mà mỗi phố lại dành cho một, hai hay nhiều làng mà chỉ có người những làng ấy mới được phép mở cửa hàng tại đấy. Thật không khác gì lối các hội buôn hay các phường ở các thành thị châu Âu” [11;147-148]. Ở thế kỷ XVIII, theo giáo sĩ Risa thì “nền thương mại của Thăng Long rất lớn”. Năm 1736, sứ thần Trung Quốc là Ngụy Tiếp đi chơi Kẻ Chợ đã hưng phấn làm nên những câu thơ ca ngợi cảnh buôn bán tập nập ở đây: “Ngày dài thuyền chở xe dong 96
  10. Nhà nước Lê - Trịnh với việc lập thương điếm của thương nhân... Bán buôn lũ lượt trập trùng chen đua. . . ” [13;380] Kẻ Chợ trong các thế kỷ XVII - XVIII được các giáo sĩ, thương nhân phương Tây miêu tả như trên một phần do chính sách cởi mở của nhà nước Lê - Trịnh. Lần đầu tiên trong lịch sử, một triều đại phong kiến đã rộng mở cho các thương nhân nước ngoài, trong đó có nhiều thương nhân phương Tây vào trực tiếp buôn bán ở kinh thành. Điều này chưa từng có tiền lệ. Do vậy, kinh thành vốn có nền tảng của một đô thị chính trị, nhanh chóng chuyển mình thành một đô thị chính trị - kinh tế, với nền kinh tế thương nghiệp sầm uất. Phố Hiến là một đô thị mới hình thành trên cơ sở một khu chợ gần Hiến ty Sơn Nam. Cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII, Phố Hiến đã nổi tiếng ở Đàng Ngoài và được nhân dân gọi là “tiểu Tràng An”. Nhà nước Lê - Trịnh đã biến Phố Hiến thành trạm trung chuyển của thuyền buôn nước ngoài. Theo các giáo sĩ phương Tây, vào thế kỷ XVII, Phố Hiến đã có trên 2000 nóc nhà với 12 phường, trong đó có 8 phường sản xuất các mặt hàng thủ công. Người Trung Quốc đã định cư ở đây từ rất sớm, họ đã xây dựng được một khu phố có tên là Bắc Hòa. Cuối thế kỷ XVII hình thành khu nhà ở của người Việt với tên Nam Hòa. Các thương điếm của người Hà Lan, Pháp, Anh đều ở khu này. Không lâu sau, ở đây cũng hình thành 20 phường, trong đó có 8 phường thủ công. Tuy nhiên, với tư cách là trạm trung chuyển, là nơi thu thuế, kiểm tra hàng hóa của nhà nước, mặc dù đã hình thành phố phường theo kiểu Kẻ Chợ, nhưng Phố Hiến không có điều kiện phát triển lên trong bối cảnh của khu vực Sơn Nam. Sự đổi dòng của sông Hồng giữa thế kỷ XVIII đã là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự tàn lụi của Phố Hiến. 3. Kết luận Trong thế kỷ XVII, trước sự phát triển của kinh tế ngoại thương, nhà nước Lê - Trịnh đã có một số chính sách nhất định với việc đặt thương điếm của thương nhân nước ngoài ở Phố Hiến và Thăng Long - Kẻ Chợ. Trong đó, bên cạnh những quy định khắt khe, thì trong thế kỷ XVII, chúng ta thấy được sự “cởi mở” hơn trong nền kinh tế ngoại thương. Các thương điếm xuất hiện, việc buôn bán sầm uất đã làm bức tranh kinh tế nước ta “khởi sắc” hơn các thời kỳ trước, góp phần đưa thành phố Thăng Long - Kẻ Chợ được nhiều thương nhân nước ngoài biết đến và đưa Việt Nam vào hệ thống thương mại biển Đông. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] W. Dampier, 2008. Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688. Nxb Thế giới, Hà Nội. [2] Đại học KHXH & NV, 2007. Đại học Quốc gia Hà Nội, Kỷ yếu Hội thảo “Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á”. Nxb Thế giới, Hà Nội. 97
  11. Phạm Thị Nết và Hoàng Thị Nga [3] Nguyễn Văn Kim, 2002. Thương mại Việt Nam - Nhật Bản thế kỷ XVI - XVIII. Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 286. [4] Nguyễn Văn Kim, 2006. Về các mối quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa Việt Nam và Nhật Bản trong lịch sử. Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 5, tr 65. [5] Kỷ yếu Hội thảo, 1994. Phố Hiến. Hà Nội. [6] Đỗ Thị Thùy Lan, 2008. Về sự tồn tại của thương điếm Hà Lan ở Phố Hiến thế kỷ XVII. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 8, tr 368. [7] Hoàng Anh Tuấn, 2006. Mậu dịch tơ lụa của công ty Đông Ấn Hà Lan với Đàng Ngoài 1637 - 1670. Tạp chí NCLS, số 3+4. [8] Anthony Reid, 1988, Southeast Asian in the Age of Commerce 1450 - 1680. Vol 1: The lands bellow the Winds, New Haven and London, Yale University Press, America. [9] Thành Thế Vỹ, 1961. Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu XIX. Nxb Sử học, Hà Nội. [10] Trần Thị Vinh, 2007. Nhà nước Lê - Trịnh với nền kinh tế ngoại thương ở thế kỷ XVI - XVIII. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 12. [11] Trần Huy Liệu (chủ biên), 2009. Lịch sử thủ đô Hà Nội. Nxb Lao động, Hà Nội. [12] C. B. Maybon, 2006. Những người châu Âu ở nước An Nam. Nxb Thế giới, Hà Nội. [13] Trương Hữu Quýnh (chủ biên), 2003. Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1. Nxb Giáo dục, Hà Nội. ABSTRACT Le - Trinh State with Entrepots permission for foreign traders at Pho Hien and Thang Long - Ke Cho in the Seventeenth Century Policies of Le - Trinh State, with Entrepreneurs permission of foreign traders, were influenced by the former dynasties, primarily resulting from the national secu- rity protection psychology. The State allowed traders from Holland, England, and France to open an Entrepot at Pho Hien, and then they moved it to Thang Long – Ke Cho, contributing to develop the economy in Tonkin. However, there was no consistence and similarity between the State’s regulations of Entropot’s establish- ment. Particularly, Lord Trinh and his royal officers’ harassment of traders which considerably reduced their enthusiasm for trading in Tonkin. 98
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2