intTypePromotion=1
zunia.vn Tuyển sinh 2024 dành cho Gen-Z zunia.vn zunia.vn
ADSENSE

Đề tài: Vay nợ nước ngoài và gánh nặng cho tương lai phân tích thực tiễn ở Việt Nam

Chia sẻ: Nguyễn Mạnh Cường | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:23

239
lượt xem
93
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'đề tài: vay nợ nước ngoài và gánh nặng cho tương lai phân tích thực tiễn ở việt nam', luận văn - báo cáo, kinh tế - thương mại phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Vay nợ nước ngoài và gánh nặng cho tương lai phân tích thực tiễn ở Việt Nam

  1. Luận văn Đề tài: Vay nợ nước ngoài và gánh nặng cho tương lai phân tích thực tiễn ở Việt Nam
  2. MỞ ĐẦU: Trong những năm qua nước ta liên tục đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đó không chỉ dựa vào yếu tố nộ i sinh, mà còn có sự tác động của yếu tố b ên ngoài. Để đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong đ iều kiện tiết kiệm trong nước còn hạn chế, các nước đang phát triển thường thu hút các nguồn vốn nước ngoài bằng nhiều cách khác nhau, trong đó vay nợ là một phương th ức phổ biến. Vay n ợ nước ngoài bao gồm vay nợ dưới hình thức vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có tính chất ưu đãi và vay thương mại theo các điều kiện thị trường. Chính nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài đã giúp nhiều quốc gia khắc phục tình trạng chậm phát triển và chuyển sang phát triển bền vững. Nợ nước ngoài phải được sử dụng một cách có hiệu quả đ ể đáp ứng các nhu cầu đầu tư, đồng th ời phả i thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng, nhằm tạo nguồn vốn trả nợ, đảm bảo phát triển kinh tế b ền vững. Tuy nhiên, cũng có không ít quốc gia không những không cải thiện được một cách đáng kể tình hình kinh tế mà còn lâm vào kinh tế suy thoái, nợ nần và các gánh nợ trong tương lại. Nguyên nhân của những thất bại trong việc vay n ợ nước ngoài cũng có rất nhiều, trong đó phải kể đến buông lỏng quản lý nợ nước ngoài. Chính vì vậy chính sách quản lý nợ nước ngoài là một bộ phận thiết yếu trong chính sách tài chính quốc gia. A. VAY VỐN NƯỚC NGOÀI I. Khái quát về vay vốn nước ngoài. 1. Khái niệm. Theo Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài ( ban hành kèm theo Nghịđịnh số 134/2005/NĐ-CP ngày 01/11/2005 của Chính phủ) thì vay nước ngoài là các khoản vay ngắn hạn ( có thời hạn vay đến một năm ), trung và dài hạn ( có thời hạn vay
  3. trên một năm ) có hoặc không trả lãi do Nhà nước, Chính phủ Việt Nam và các tôt chức là người cư trú ở Việt Nam ( gọi tắt là b ên đi vay ) vay của các tổ chức tài chính quốc tế, Chính phủ các nước, các tổ chức và cá nhân nước ngoài khác ( gọi tắt là bên cho vay nước ngoài ). 2. Phân loại vay vốn nước ngoài.  Phân loại theo chủ thể đi vay: gồm vay nước ngoài của Chính Phủ và vay nước ngoài của doanh nghiệp - Vay nước ngoài của Chính phủ là các khoản vay do cơ quan được uỷ quyền của Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam ký vay với Bên cho vay nước ngoài dưới danh nghĩa Nhà nước hoặc Chính phủ Cộ ng hoà xã hộ i chủ nghĩa Việt Nam.Vay nước ngoài của Chính phủ bao gồm các khoản vay ưu đ ãi Hỗ trỡ phát triển chính thức (ODA), vay thương mại ho ặc tín dụng xuất khẩu và vay từ thị trường vốn quố c tế thông qua việc phát hành trái phiếu dưới danh nghĩa Nhà nước hoặc Chính phủ (kể cả trái phiếu chuyển đổ i nợ) ra nước ngoài. - Vay nước ngoài của các doanh nghiệp là các kho ản vay do doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo luật pháp hiện hành của Việt N am (kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) trực tiếp ký vay với Bên cho vay nước ngoài theo phương thức tự vay, tự chịu trách nhiệm trả nợ, ho ặc vay thông qua việc phát hành các trái phiếu ra nước ngoài (trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu ngân hàng...).Vay nước ngoài của các doanh nghiệp bao gồm: Vay có bảo lãnh của Chính phủ, vay có bảo lãnh của ngân hàng hoặc các hình thức bảo đảm khác được quy định của nhà nước.  Phân loại theo chủ thể cho vay : gồm các khoản vay song phương và vay đa phương. - Vay đa phương chủ yếu đ ến từ các cơ quan của Liên hợp quố c, Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), các ngân hàng phát triển trong khu vực, các cơ quan đa phương như OPEC và liên chính phủ. - Vay song phương đến từ chính phủ một nước như các nước thuộc OECD và các nước khác hoặc đến từ một tổ chức quốc tế nhân danh một chính phủ duy nhất dưới dạng hỗ trợ tài chính, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật.  Phân loại theo lo ại hình đi vay : vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay thương mại - Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Theo định nghĩa của Tỏ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) hỗ trợ phát triển chính thức bao giồ m các chuyển khoản song phương (giữa các chính phủ) hoặc đa phương trong đóít nhất 25% tổ ng giá trị chuyển khoản là cho không. Vay hỗ trợ phát triển chính thức là loại hình vay nợ có nhiều đ iều kiện ưu đãi, ưu tiên về lãi suất, về thời gian trả nợ và thời gian ân
  4. hạn. Lãi suất của vay hỗ trợ phát triển chính thức thấp hơn nhiều so với vay thương mại. Thời gian cho vay hỗ trợ phát triển chính thức dài ( có thể 10,15 hay 20 năm) và thời gian ân hạn dài, do vậy các nước đang phát triển thường hướng tới và tận dụng tối đa nguồn vốn này cho quá trình xây dụng và phát triển đất nước. Tuy nhiên vay hỗ trợ phát triển chính thức cũng có những mặt trái của nó, việc vay hỗ trợ phát triển chính thức đôi khi kèm theo những điều kiện ràng buộc khiến cái giá phải trả tăng lên. - Vay thương mại : Vay thương mại khác với vay hỗ trợ phát triển chính thức là không cóưu đãi về lãi suất và thời gian ân hạn. Lãi suất vay thương mại là lãi suất thị trường tài chính quốc tế và thường thay đổi theo lãi suất thị trường. Chính vì vậy vay thương mại có giá khá cao và chứađựng nhiều rủi ro. Việc vay thương mại của chính phủ phảiđược cân nhắc hết sức cẩn trọng.  Phân loạ i theo thời hạn vay : vay ngắn hạn và vay dài hạn - Vay ngắn hạn là loại vay có thời gian đáo hạn một năm trở xuống. Vì thời gian đáo hạn ngắn nên khối lượng thượng không đáng kể, vay ngắn hạn thường không thuộcđối tượng quản lý một cách chặt chẽ như vay dài hạn. Tuy nhiên vay ngắn hạn không trảđược sẽ gây mấtổnđ ịnh cho hệ thố ng ngân hàng. - Vay dài hạn là những khoản vay có thời gian đáo hạn gốc theo hợpđồ ng hoặcđã gia hạn kéo dài thêm một năm tính từ ngày ký kết hợpđồ ng vay nợ cho đến hạn kho ản thanh toán cuối cùng. Vay dài hạnđược quan tâm quản lý hơn do khả năng tácđộng lớn tới nền tài chính quốc gia. 3. Các chỉ tiêu vay vốn nước ngoài Chúng ta thường xét đ ến 5 chỉ tiêu vay nợ nước ngoài trong đó xoay quanh 2 yếu tố : tổ ng nợ nước ngoài và trả nợ hàng năm .  Tổng nợ nước ngoài : là tổng số nợ của chính phủ , nợ đ ược chính phủ bảo lãnh và nợ tư nhân không có bảo lãnh của chính phủ . - Tỉ lệ % tổng nợ nước ngoài so với nguồn thu xuất khẩu : phản ánh mức độ trả nợ nước ngoài tư nguồn thu xuất khẩu hang hóa dịch vụ . - Tỉ lệ % dự trữ ngoại hối so với tổng nợ nước ngoài : biểu diễn khả năng của NHTW của nước con nợ có thể dùng dự trữ ngoại hố i để trả nợ nước ngoài như thế nào . - Tỉ lệ % tổng nợ nước ngoài so với GDP : chỉ tiêu này phản ánh tiềm năng trả nợ của một quốc gia .  Trả nợ hàng năm : Tổng lãi và gốc quốc gia phải trả nợ trong 1 năm . Có 2 chỉ tiêu liên quan đến trả nợ hàng năm :
  5. - Tỉ lệ % phải trả hàng năm so với thu xuất khẩu : phản ánh quan hệ giữa nghĩa vụ p hải thanh toán những khoản nợ so với năng lực xuất khẩu hàng hóa – dịch vụ của nước con nợ - Tỉ lệ % phải trả so với GDP : Phản ánh tiềm năng trả nợ hàng năm của các nước con nợ II. Tính hai mặt của vay vốn nướ c ngoài 1. Tích cực N guồn vốn vay nước ngoài có vai trò quan trọ ng trong sự phát triển của Kinh tế- Xã hội: Vố n vay nước ngoài được đưa vào đầ u tư nhà nước, trước hết là nguồn vốn o đầu tư công cộng , đã và đang là nguồn vốn bổ sung cho quá trình phát triển và tăng trưởng kinh tế , điều chỉnh cán cân thanh toán quốc gia.Vay vốn nước ngoài giúp bù đắp cán cân thanh toán. Cán cân thanh toán của một quốc gia có thể tạm thời b ị thâm hụt do nhiều nguyên nhân, khi đó quốc gia đó có thể vay nước ngoài để bù đắp phần thâm hụt này. K hoa học kinh tế học của sự phát triển cũng như kinh nghiệm của các nước đang phát triển đều cho thấy để phát triển nhanh và bền vững, thực hiện được các chương trình công nghiệp hoá dài hạn, cần phải đầu tư vào cơ sở hạ tầng gồm đường xá, bến cảng, năng lượng, bưu điện và thông tin liên lạc, các công trình thuỷ lợi, khai hoang... Đây đều là những dự án đòi hỏi chi phí đầu tư ban đ ầu rất lớn nhưng lại có khả năng sinh lời thấp và thời hạn thu hồi vốn lâu. Do đó trong giai đoạn đầu phát triển, các thành phần kinh tế khác, nhất là thành phần kinh tế tư nhân, vừa không muốn tham gia đầu tư, vừa không có đ ủ tiềm lực vốn để đ ầu tư. Vì vậy, chỉ có Nhà nước, thông qua đầu tư công cộng bằng nguồn vốn lớn huy độ ng tập trung vào ngân sách và viện trợ nước ngoài mới có thể thực hiện các đầu tư này. Thực tế ở nước ta cho thấy, cơ sở hạ tầng là một trong những vấn đề hàng đầu mà các nhà đầu tư quan tâm khi quyết định đầu tư. Tại những địa phương mà cơ sở hạ tầng kém phát triển thì không những các nhà đầu tư nội đ ịa không muốn đầu tư mà cả các nhà đầu tư nước ngoài cũng xa lánh. Khi không thu hút được đầu tư phát triển sản xuất thì sẽ không có thu nhập để cải tạo, phát triển cơ sở hạ tầng. Chính cái vòng luẩn quẩn này đã tạo nên một thực trạng là các vùng kinh tế đã phát triển thì càng phát triển hơn, trong khi những vùng có cơ sở hạ tầng yếu kém, kinh tế không phát triển, thì ngày càng bị tụt hậu. Chính đ ầu tư công cộng trong đó có đóng góp của vốn nước ngoài đã và đang phát huy tác dụng, góp phần giảm bớt những chênh lệch bất bình đẳng này.
  6. Vố n vay nước ngoài cùng với đầu tư nhà nước là nguồn chủ yếu để phát o triển các ngành công nghiệp cơ bản và các ngành cầ n nhiều vốn khác, do đó đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các đầu vào để phát triển các ngành kinh tế khác. Cũng theo phân tích ở trên, đối với những ngành cần nhiều vốn, hệ số sinh lời thấp và thời gian thu hồ i vốn lâu, thì trong giai đoạn đầu phát triển, chỉ có thông qua đầu tư nhà nước mới phát triển được các ngành này . Để đố i phó với tình hình thiếu hụt nguồ n tài nguyên thiên nhiên,không có viện trợ từ nước ngoài chính phủ đã tập trung nguồ n vốn vay nước ngoài đ ể đầu tư phát triển những ngành công nghiệp cơ bản thông qua các doanh nghiệp nhà nước nhằm tháo gỡ những điểm "thắt nút" trong nền kinh tế, tạo ra các đ ầu vào thiết yếu phục vụ các ngành khác phát triển. Vố n vay nước ngoài đóng vai trò quan trọng đố i với phát triển nông o nghiệp, nông thôn, tác động tích cực tới công cuộc xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn. N hờ đầu tư của nhà nước vào cá vùng nông thôn còn gặp nhiều khó khăn tư đó thúc đẩy kinh tế ở nông thôn vươn lên mạnh mẽ . Hệ thống thuỷ lợi được cải thiện rõ rệt đ ã là nhân tố q uyết định để thâm canh, tăng vụ và nâng cao sản lượng lương thực; nhờ đó, không chỉ giữ vững an ninh lương thực mà còn xuất khẩu gạo với khối lượng ngày càng lớn. Năng suất, sản lượng các loại cây công nghiệp đều tăng rõ rệt. Cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển mạnh; đặc biệt là điện, nước và giao thông. Nhà nước cũng đã đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo ở nông thôn, xóa nạn mù chữ, cho phép cải thiện đáng kể chất lượng con người nông thôn.... Vố n vay nước ngoài th am gia mạnh m ẽ vào quá trình phát triển dịch vụ o công cộng, y tế, văn hoá, giáo dục, khoa h ọc kỹ thuật... Đ ầu tư nhà nước (chủ yếu là đ ầu tư công cộng trong đó có sự đóng góp quan trọng của vốn vay nước ngoài) đã và đang đóng vai trò quyết đ ịnh trong việc x ây dựng cơ sở hạ tầng xã hộ i (trường học, bệnh viện, nhà trẻ...) và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển dài hạn. Đầu tư nhà nước cũng đóng vai trò quan trọng trong phân bố lại lực lượng sản xuất xã hội, giảm bớt chênh lệch giầu nghèo và trình độ phát triển giữa các vùng. Tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước, góp phần thu o hút , mở rộng các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế đ ất nước. Vay vốn nước ngoài tạo điều kiện cho kinh tế đất nước phát triển , mở rộng quy mô kinh do anh tạo nên sự thu hút vốn của các nhà đầu tư không chỉ trong nước mà
  7. còn ở nước ngoài . Kết hợp vốn vay nước ngoài cùng với đầu tư trong và ngoài nước để phát triển các ngành kinh tế mang lại hiệu quả cao -> thúc đ ẩy kinh tế phát triển. Vay vốn nước ngoài góp phần ổn đ ịnh tiêu dùng trong nước khi mà quốc o gia đang trong tình trạng khủng hoảng tài chính ho ặc thiên tai bất ngờ ảnh hưởng tới sản xuất của quốc gia, khi đó vay vốn giúp ổn định tiêu dùng trong ngắn hạn góp phần nhanh chóng hồi phục nền kinh tế. 2. Tiêu cực Bên cạnh mặt tích cực của vay vốn nước ngoài thì việc vay vốn nước ngoài cũng có mặt tiêu cực như việc một quốc gia khó có nguy cơ phải bán tài sản, tô nhượng đất đai hầm mỏ để trả nợ, hay việc các thế hệ tương lai phải còng lưng ra làm việc, chắt bóp chi tiêu để trả nợ là chuyện đương nhiên. Dù là nguồn vố n hỗ trợ chính thức (ODA) có điều kiện ưu đãi cao nhất, cho đến các khoản vốn vay thương mại thông thường trên thị trường tài chính quố c tế thì nghĩa vụ nợ (bao gồ m trả lãi và nợ gốc) cũng luôn luôn đặt ra cho người vay. Một cơ cấu nợ mà chiếm tỷ trọng lớn nhất là những khoản vay thương mại “nóng”, lãi cao, và bằng những ngoại tệ không ổ n định theo xu hướng “đắt” lên sẽ chứa đựng những xung lực lạm phát mạnh. Những xung lực này càng mạnh hơn nếu vố n vay không được quản lý tốt và sử dụng có hiệu quả, buộ c con nợ phải tiếp tục tìm kiếm các khoản vay mới, với những điều kiện có thể ngặt nghèo hơn – chiếc bẫy nợ sập lại, con nợ rơi vào vòng xoáy mới: Nợ-vay nợ mới-tăng nợ-tăng vay… Vòng xoáy này sẽ dẫn con nợ đến sự vỡ nợ hoặc vòng xoáy lạm phát: Nợ-tăng nghĩa vụ nợ-tăng thâm hụt ngân sách-tăng lạm phát. Lúc này d ịch vụ nợ sẽ ngố n hết những khoản chi ngân sách cho phát triển và ổn định xã hội, làm căng thẳng thêm trạng thái khát vốn và hỗn lo ạn xã hội. H ơn nữa, việc “thắt lưng buộc bụng” trả nợ khiến nước nợ p hải hạn chế nhập và tăng xuất, trong đó có hàng tiêu dùng mà trong nước còn thiếu hụt, do đó làm tăng mất cân đố i hàng tiền, tăng giá, tăng lạm phát. N ợ nước ngoài có thể làm sụp đổ cả một chính phủ, nhất là ở những nơi tình trạng tham nhũng và vô trách nhiệm là phổ biến của giới cầm quyền, đi kèm với việc thiếu những giải pháp xử lý mềm dẻo khôn ngoan với nợ (đàm phán gia hạn nợ, đổi nợ thành đầu tư, đổi cơ cấu và điều kiện nợ, xin xoá nợ từng phần…). Do vậy, sự chủ động và tỉnh táo khố ng chế nợ ở mức độ an toàn, theo những dự án đầu tư cụ thể, được luận chứng kinh tế – kỹ thuật đầy đủ, và chấp nhận sự kiểm tra, giám sát của chủ nợ để tránh hao hụt do tham nhũng hay sử dụng nợ sai mục đích là những nguyên tắc hàng đầu cần được tuân thủ trong quá trình vay nợ nước ngoài. V í dụ: về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá
  8. của nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường b ảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đ ãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao. N guồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo. Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đ ến hơn 90%. Bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới. N guồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tố i đa các sản phẩm của họ . Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất. N ước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự tho ả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia. N goài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử d ụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình đ ộ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành d ự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư b ằng nguồn vố n này còn thấp... có thể đ ẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần và trong tương lai quốc gia đó phải sử dụng các biện pháp để giải quyết vấn đề nợ nần này, các biện pháp này khiến các quốc gia phải hi sinh khá nhiều thứ. Sự vay mượn nước ngoài quá mức sẽ đẩy nền kinh tế quốc gia phụ thuộ c nhiều vào kinh tế nước ngoài và việc sử dụng các khoản vay mượn đó không hợp lý sẽ làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng này càng khó điều tiết. Bài học về khủng ho ảng nợ Hy Lạp gần đây cho thấy rõ ràng về những quốc gia đang phát triển nóng theo đuổi những con số đẹp về chỉ tiêu tăng trưởng, nếu cứ tiếp tục đi vay và sử dụng tiền vay không hiệu quả, chắc chắn sẽ để lại cho thế hệ tương lai là mộ t món nợ khổng lồ. Các phương thức nhằm tái thúc đẩy nền kinh tế q uốc gia tuy cần thiết - b ao gồm cả những biện pháp khắc khổ được thương lượng với EU và IMF để đổi lấy món vay 110 triệu euro - đang bắt đầu đè nặng lên vai người dân Hy Lạp. Trong số đó có thể kể tới việc tăng các loại thuế trực thu, 10% trên xăng dầu và thuế trị giá gia tăng từ
  9. 21% lên 23%, song song đó là việc ngừng tăng lương.Tháng 5/2010, các nhà lãnh đạo eurozone và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố gói cứu trợ kỳ hạn 3 năm trị giá 110 tỷ euro dành cho Hy Lạp. Sau đó, vào tháng 10/2010, IMF cho Hy Lạp vay thêm 2,5 tỷ euro (3,3 tỷ USD), nâng tổng giá trị các khoản vay khẩn cấp mà IMF dành để ngăn chặn khả năng vỡ nợ của nước này lên 10,58 tỷ euro (tương đương 13,98 tỷ USD). Từ tháng 5/2010 và 6/2011, Ngân hàng Trung ương Châu Âu đã mua khoảng 45 tỷ euro trái phiếu chính phủ Hy Lạp. Ngoài ra, các kho ản hỗ trợ thanh khoản mà ECB dành cho các ngân hàng Hy Lạp đã tăng từ mức 47 tỷ euro vào tháng 1/2010 lên mức 98 tỷ euro vào tháng 5/2011. Đáp lại, ngày 21/10, Hy Lạp thông qua chính sách tiết kiệm ngân sách mới bao gồm tăng thuế, cắt giảm trợ cấp, sa thải 30.000 công chức trước áp lực nợ công lên tới 162% GDP. Sau nhiều lần trì hoãn, gói cứu trợ thứ 2 trị giá 130 tỷ euro đã được thành viên cuối cùng của châu Âu là Đức thông qua nhằm giúp đưa nợ công quố c gia này giảm về gần 121% GDP vào năm 2020. Đây chỉ là một ví dụ về hậu quả của mặt trai của vay vố n nước ngoài. B. VIỆT NAM – VAY NỢ NƯ ỚC NGOÀI VÀ GÁNH NỢ TRONG TƯƠNG LAI I. Thực trạng vay nợ hiện nay tại Việt nam hiện nay. 1. C ác phương thức vay nợ chủ yếu của Việt Nam Ngoài yếu tố tiết kiệm trong nước, các q uốc gia đang phát triển – có thể cho là các quố c gia thiếu vốn - c ầ n s ự “ giúp đ ỡ ” t ừ y ế u t ố “ ngo ạ i s inh”, C hính p h ủ c ầ n p h ả i h uy đ ộ ng c ác n gu ồ n l ự c t ừ b ên n goài nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước. N ợ của Chính phủ chủ yếu xuất phát từ ba nguồn chủ yếu sau đây:  Nợ ODA (Nguồ n vốn vay phát triển chính thức - phần cho vay ưu đ ãi trong khoản hỗ trợ phát triển chính thức ODA).  Vay thương mại qua các hợp đồng song phương và đa phương.  Phát hành trái phiếu quốc tế (một hình thức vay nợ nước ngoài vừa mới đ ược Chính phủ áp dụng). 2. Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam. 2.1 Tình hình chung. B áo c áo c ủ a C hính p h ủ v ề t ình h ình k inh t ế , x ã h ộ i n ăm 2 010 v à n hi ệ m v ụ n ăm 2 011 t ạ i K ỳ h ọ p t h ứ 8, Quố c hội khoá X II, cho biết: “Đến hết năm 2010, dư nợ Chính phủ tương đương khoảng 44,5% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 42,2% GDP tăng so với con số 39% của năm 2009 và cao nhất kể
  10. từ năm 2006 tương đương 32,5 tỷ USD tăng 4,6 tỷ USD so với năm trước, và dư nợ công bằng 56,7% GDP ”. Do dư nợ tăng, tổng lượng tiền mà ngân sách phải dành để trả các đối tác nước ngoài trong năm 2010 là 1,67 tỷ USD (riêng tiền lãi và phí là hơn 616 triệu USD), tăng gần 30% so với con số 1,29 tỷ U SD của năm 2009. Trong khi đó, theo cảnh báo của Bộ Tài chính, dự trữ ngoại hố i của Việt Nam trong năm 2010 chỉ còn tương đương 187% tổng dư nợ ngắn hạn, giảm mạnh so với con số 290% và 2.808% của các năm 2009 và 2008. Theo báo cáo của Bộ trưởng Tài chính trước Quốc hội, tính đến cuối năm 2011, tổng nợ công/GDP của Việt Nam ước vào khoảng 54,6%, có giảm đôi chút so với năm 2010 chủ yếu do lạm phát cao của năm 2011 làm tăng giá trị hiện hành của GDP chứ không phải do vay nợ của Việt Nam giảm. Trong đó, nợ công nước ngoài vào khoảng 31,1% GDP. Các con số này hoàn toàn nằm trong ngưỡng an to àn của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Bả ng 1: Tình hình nợ nước ngoài của Việt Nam từ 2003-2010: Từ bảng số liệu trên có thể thấy rằng các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài đang có xu hướng giảm dần qua các năm, năm sau giảm hơn năm trước (ngoại trừ chỉ tiêu nợ dịch vụ). Đ ặc biệt trong giai đoạn 2008- nay, khi thế giới đang phải đối m ặt với cuộ c khủng hoảng kinh tế và xảy ra nhiều biến động trên thế giới thì nợ nước ngoài
  11. của Việt Nam không những không tăng mà còn có xu hướng giảm. 2.2 Lãi suất vay nợ của Việt Nam hiện nay. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, lãi suất vay nợ của Việt Nam đang có xu hướng tăng lên. Điều này có thể là hệ quả của việc Việt Nam đã gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cũng như việc uy tín nợ quốc gia bị ảnh hưởng do mộ t số bất ổn của kinh tế vĩ mô và sự kiện Vinashin. Hiện nay Việt Nam được vay nợ với lãi suất thấp 1 - 2,99% /năm (chiếm 65,5% tổng dư nợ). Khoản vay có lãi suất cao từ 6 - 10% một năm trong năm 2010 cũng đã lên tới 1,89 tỷ U SD, gấp hơn 2 lần năm 2009. Theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đố i ngoại, lãi suất trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ đã tăng từ 1,54%/năm vào năm 2006 lên 1,9%/năm trong năm 2009 và năm 2010 đạt tới 2,1%/năm. Theo quan điểm của IMF thì tiêu chí đánh giá an toàn nợ nước ngoài đối với các quố c gia có thu nhập t h ấ p d ự a v ào h i ệ n g iá t hu ầ n c ủ a n ợ v à d ị ch v ụ n ợ , m ộ t c hính s ách n ợ y ế u đ ồ ng n gh ĩa an toàn về nợ và mộ t chính sách nợ mạnh đồng nghĩa với kém an toàn về nợ. 2.3 Cơ cấu nợ vay của Việt Nam. Nợ nước ngoài của Việt Nam khá đa dạng về cơ cấu tiền vay. Trên lý thuyết, điều này được cho là có thể hạn chế rủi ro về tỷ giá, giảm áp lực lên nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ. Tuy nhiên, trên thực tế cơ cấu này cũng tiềm ẩn những rủi ro khi có biến độ ng trên thị trường tài chính thế giới. Tỷ trọng cao của các khoản vay bằng USD (22,95%) và JPY (38,25%) gây nguy cơ gia tăng khoản chi gốc và lãi khi tỷ giá USD/VND luôn có xu hướng tăng; và JPY đang lên giá so với USD. Bảng 2 : Các chỉ tiêu về g iám sát nợ nước ngoài của Việt Nam.
  12. (Nguồn: IMF & Bản tin nợ nước ngoài số 5 ) Dễ dàng nhận thấy xu hướng gia tăng nợ đã d iễn ra trong những năm gần đây, từ mức 14,208 tỷ USD năm 2005 lên 27,928 tỷ USD năm 2010. N ế u t i ế p t ụ c x u h ư ớ ng n ày v à k hông c ó c ác b i ệ n p háp k i ể m s oát v à q u ả n l ý n ợ c ó t h ể k hi ế n n ợ n ư ớ c ngoài trở nên không an toàn. B ả ng 3 : Q uan h ệ g i ữa t hâm h ụ t t hương m ạ i v à n ợ n ư ớ c n goài c ủ a V i ệ t N am g iai đ o ạ n 2 005 - 2009 (Ngu ồ n: Thống kê tài chính của IMF và Bộ Tài Chính)
  13. T óm l ạ i, n ợ n ư ớ c n goài c ủ a Vi ệ t N am h i ệ n n ay v ẫ n c òn t rong g i ớ i h ạ n a n t oàn n hưng x u h ư ớ ng n ợ nước ngoài đang gia tăng cho thấ y, nếu không có những giải pháp hợp lý kèm theo, thì nợ nước ngoài có thể mất a n toàn và gây ra các bất ổn kinh tế vĩ mô. 2.4 Các khoản nợ nước ngoài của việt nam một số năm gần đây. Phân theo chủ nợ của khoản nợ chính thức ta có các chủ nợ song phương và đa phương. Gồm có các nước chủ nợ sau : Angeri, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Pháp , Nhật Bản… và các tổ chức sau EIB, IBRD, IDA, IFAD, IMF, N DF, N IB, OPEC, ADB… Nợ song phương : Mức nợ song phương lớn nhất của Việt Nam hiện nay là Nhật Bản với mức nợ hằng năm đều > 50% tổng nợ vay của các chủ nợ lớn. Tiếp đến là Pháp và Nga. Sau đây là số liệu cụ thể: Bảng 4 : Một số chủ nợ song phương lớn của Việt Nam Đ ơn vị tính :Triệu USD 2005 2006 2007 2008 2009 158.3 127.82 96.71 42.6 66.6 Angeri Trung 128.25 141.53 169.94 186.41 359.08 Quố c 3,945.5 4,526.0 5,449.9 6 ,773.6 8,290.9 Nhật Bản 5 2 9 6 4 123.38 136.03 133.28 113.55 186.48 Hàn Quốc 103.68 100.46 97.24 94.02 92.06 Hoa Kỳ 1,009.3 1,112.5 676.05 784.03 911.72 Pháp 6 2 641.21 636.54 626.3 607.45 589.09 Nga 10696.7 Tổ ng 5776.42 6452.43 7582.82 8729.41 7
  14. Ngoài ra Việt Nam còn vay nợ từ các tổ chức đa phương chức trên thế giới được tổng hợp từ nguồ n của Tổ ng cục thống kê như sau Bảng 5 : Nợ vay từ các tổ chức đa phương của Việt Nam Đ ơn vị tính: Triệu USD 2006 2007 2008 2009 2010 2009.66 2421.22 2623.58 3860.99 4174.44 ADB 700 IBRD 3593.14 4608.97 4863.11 6441.29 6930.41 IDA 77.04 90.94 95.49 115.96 128.38 IFAD 188.54 170.58 135.58 92.78 50.01 IMF 14.07 16.63 17.22 31.97 30.77 NDF 184.12 204.79 231.88 241.15 223.16 N IB 33.55 37.69 40.15 46.12 52.71 OPEC 48.09 68.62 131.33 E IB 10898.9 12421.2 Tổng 6100.11 7550.82 8048.07 8 5 Qua bảng trên ta thấy nợ song phương và đa phương của Việt Nam qua các năm đều tăng lên đáng kể. Nhật Bản và IDA là hai chủ nợ lớn nhất của Việt Nam. 2.5. Hiệu quả sử dụng nợ vay. Trong những năm qua, nhiều dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA đã hoàn thành và được đưa vào sử d ụng góp phần nâng cao, phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế. Về mặt xã hội các dự án góp phần xóa đói, giảm nghèo, gia tăng công ăn việc làm cho xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân. Các dự án điển hình: N hà máy Nhiệt điện Phú Mỹ, N hà máy Thủy điện sông Hinh, một số dự án giao thông quan trọng như Quố c lộ 5, Quốc lộ 1 A, cầu Mỹ Thuận… nhiều trường tiểu học đ ã được xây mới, cải tạo tại hầu hết các
  15. tỉnh, một số bệnh viện ở các thành phố, thị xã như bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Chợ Rẫy, nhiều trạm y tế đ ã được cải tạo hoặc xây mới, các hệ thống cấp nước sinh ho ạt ở nhiều tỉnh, thành phố cũng như ở nông thôn, vùng núi.Các chương trình dân số và phát triển,chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, tiêm chủng mở rộng được thực hiện mộ t cách có hiệu quả. Trong vấn đề sử d ụng nợ, một điều đ áng q uan tâm là mục đích sử dụn g nợ lại là yếu tố dẫn đến nợ vay khô ng đ ược sử dụng m ột cách có hiệu quả. Vấn đề đặt ra là trên thực tế khi tiến hành huy độ ng vố n cần phải xây dựng các kế hoạch chi tiết về vay, sử dụng và trả nợ nhưng sử dụng vốn vay như thế nào lại liên q uan đến tình hình thực tế. Điều đó dẫn đến nguồn vốn khi huy động thì rất nhanh, trong mộ t thời gian n gắn có thể đáp ứn g nhu cầu về vố n, nhưn g tố c độ giải ngân thì ch ậm, ảnh hướng đến việc sử d ụng v ốn sao cho vừa đún g mục đíc h vừa thoả mãn nhu cầu cầu về vốn vừa làm cho đồ ng vốn sinh lời để trả nợ. Với đồng vốn giả i ngân chậm mà không được đưa đồng vốn giải ngân vào sử dụng cho mục đích khác đã làm cho hiệu quả của nợ vay giảm rất nhiều. Theo báo cáo của Ngân hàn g Thế giới (WB), hiện nay tốc độ giải ngân của Việt Nam chỉ đạt khoản g 50%/năm. Thanh to án nợ của Việt Nam chỉ chiếm 28% G DP. Đây chính là một trong những vấn đ ề mà các nhà tài trợ mong muốn Việt N am cần quan tâm cải thiện. Việc chậm giải ngâ n đồng nghĩa với tiến trình thực hiện chậm, vì thế lợi ích thu được hạn chế, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. II. Gánh nợ trong tương lai. 1. Mặt trái của việc vay vốn nước ngoài hiện nay của V ệt Nam. Việc Việt Nam vay vố n nước ngoài nhưng sử dụng nó chưa hợp lý đem lại những hậu quả xấu cho nền kinh tế trong nước. Thứ nhất, vay vốn nước ngoài làm quy mô nợ nước ngoài ở Việt Nam ngày càng lớn. Theo số liệu của Bộ Tài chính, trong những năm gần đây nợ nước ngo ài so với GDP của Việt Nam tăng nhanh, từ 31,4% năm 2006 lên 41,5% năm 2011 (ở mức 1.042 nghìn tỷ đồng, khoảng 50 tỷ USD). Trong cơ cấu nợ công Việt Nam, nợ nước ngoài hiện chiếm tới 30%, vì thế, khi nợ nước ngoài tăng kéo theo tổng nợ công tăng lên. So với một số nước trong khu vực, mức nợ công của Việt Nam hiện đang ở mức quá cao: Thái Lan là 44% GDP, Indonesia là 39,7% GDP và Philippines là 47,3% GDP. Nếu xu hướng này vẫn tiếp tục và không có các biện pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả, thì có thể nợ nước ngo ài trở nên không an toàn. Điều này thực sự rất đáng lo ngại cho nền kinh tế Việt Nam. Hơn nữa, để bù đắp thâm hụt ngân sách,
  16. trong khi điều kiện vay nợ trong nước bị thu hẹp do kinh tế đang gặp khó khăn, thì nhiều khả năng phần nợ nước ngo ài sẽ tăng lên. Trước tình hình này, không ít ý kiến của các chuyên gia tài chính cho rằng, Việt Nam đang đứng trước những rủi ro nợ tiềm ẩn. Thứ hai, tỷ lệ giải ngân còn thấp: Theo Bộ Tài chính, cơ cấu nợ của Việt Nam chủ yếu là nợ vay dài hạn với lãi suất ưu đãi, trong đó: vay ODA chiếm 75% tổng số nợ, vay ưu đ ãi khác 19% và vay thương mại chỉ chiếm 7%. Phần lớn các khoản vay nước ngoài của Chính phủ là các khoản vay có thời gian dài, từ 20-40 năm, thời gian ân hạn từ 5-10 năm, lãi suất khoảng từ 0,75%-2,5%/năm. Điển hình là các khoản vay của Ngân hàng Thế giới(WB) có thời hạn 40 năm, trong đó có 10 năm ân hạn, mức lãi suất là 0,75%/năm; Các khoản vay của ADB có thời hạn 30 năm, 10 năm ân hạn, lãi suất 1%/năm; Các khoản vay của Nhật Bản có thời hạn 30 năm, 10 năm ân hạn và mức lãi suất khoảng từ 1 đến 2%/năm). Tuy nguồn vốn ODA có xu hướng tăng lên, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, nhưng mức độ giải ngân còn thấp. Thứ ba, dự trữ ngoại hối quốc gia giảm mạnh: Do dư nợ tăng nhanh, tổng lượng tiền mà ngân sách phải dành để trả các chủ nợ nước ngoài khá lớn, lại đang có xu hướng tăng lên. Cụ thể: Năm 2010, Việt Nam phải trả các chủ nợ nước ngoài là 1,67 tỷ USD (riêng tiền lãi và phí là hơn 616 triệu USD), tăng gần 30% so với con số 1,29 tỷ USD của năm 2009. Bộ Tài chính cho biết, tính từ nay cho đến năm 2015, mỗi năm nước ta phải trả nợ nước ngoài cả gốc lẫn lãi khoảng 1,5 tỷ USD, và tính đ ến năm 2020, tổng số tiền phải trả là 2,4 tỷ USD. Điều đáng lưu ý, năm 2010, dịch vụ nợ nước ngoài bằng 50% tổng đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước. Đây là con số khá lớn trong điều kiện quy mô ngân sách nhà nước còn rất hạn hẹp. Thứ tư, vay vốn nước ngoài khiến dân cư có tâm lý lo ngại do việc sử dụng dàn trải, kém hiệu quả nợ nước ngo ài: Xét về mặt tổng thể, việc sử dụng vốn vay của Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá đạt hiệu quả khá cao trên các phương diện kinh tế - xã hội. Một minh chứng rõ nét là, báo cáo của Bộ Tài chính tháng 9/2011 cho biết, tỷ lệ nợ xấu trong số hơn 500 dự án của doanh nghiệp được Chính phủ cho vay lại bằng các khoản vay nước ngo ài chỉ chiếm khoảng 0,7%.Tuy nhiên, không ít các khoản đầu tư của Nhà nước được coi là còn dàn trải, chậm tiến độ do sự thiếu kỷ luật tài chính trong đ ầu tư đ ã gây thất thoát, lãng phí lớn. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 4/2012, các dự án chậm tiến độ có xu hướng tăng lên. Trong số 302 dự án ở nhóm A được kiểm tra (nhóm dùng vốn ngân sách Nhà nước) thì phát hiện 93 dự án chậm tiến độ (chiếm 28,1%), cao hơn so với kỳ báo cáo năm 2010 là 19,35%, năm 2009 là 11,55% và năm 2008 là 16,73%. Điều
  17. này phản ánh tình trạng có vấn đề về kỷ luật tài chính trong đầu tư công và trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. 2. Gánh nợ trong tương lai. Vay vốn nước ngoài với các nước đang phát riển như Việt Nam giống như một con dao hai lưỡi. Một phần có thể, vốn vay nước ngoài giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng đầu tư, tạo nguồn lực cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước có cơ hội mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh. Mặt khác, vốn vay nước ngoài có thể mang lại những tác động xấu đến môi trường, kinh tế, xã hội... nhất là vấn đề nợ nước ngoài. H uy động và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài có thể đ ể lại gánh nặng nợ nước ngoài cho nước đi vay vốn. Gánh nặng này có thể để lại hậu quả xấu cho các thế hệ trong tương lai. Nếu để tình trạng quá nghiêm trọng, thậm chí nền kinh tế quốc gia có thể b ị suy thoái và dẫn đ ến mộ t loạt các vấn đề liên quan kéo theo về môi trường, văn hóa, xã hội,... N ợ nước ngoài bao gồm cả nợ của chính phủ, nợ của doanh nghiệp quố c doanh và ngoài quốc doanh. Tổ ng số nợ nước ngoài năm 2009 là 37 tỷ U SD, trong đó 27.8 tỷ là nợ của chính phủ (gồm cả nợ do nhà nước bảo lãnh) và 9,2 tỷ là nợ doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân không được nhà nước b ảo lãnh. Như vậy nợ của Vinashin, 700 triệu US bán trái phiếu là nằm trong nợ chính phủ và 600 triệu nợ ngân hàng Thụy Sĩ không nằm trong nợ chính phủ theo định nghĩa của VN không theo đúng với chuẩn quốc tế. Tổ ng số nợ nước ngoài của Việt Nam tăng rất nhanh (trung bình 22% một năm), cao hơn nhiều so với mức tăng danh nghĩa của GDP (trung bình 16 % một năm). Nhưng quan trọng hơn là nợ nước ngoài đang tăng tốc, vào năm 2009 tăng ở mức khủng 49 % . Và đặc biệt quan trọng là nợ doanh nghiệp không có bảo lãnh là nợ có lãi suất thị trường còn tăng mạnh hơn nhiều, ở mức 125%. Mặc dù nợ nước ngoài ở Việt Nam vẫn nằm trong ngưỡng an toàn nhưng trong những năm gần đây, nợ nước ngoài quốc gia có xu hướng tăng khá nhanh. Theo thống kê của Bộ Tài Chính nợ nước ngoài của Việt Nam đã tăng từ 31.4% trong năm 2006 lên 42.2% năm 2010. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP của Việt Nam nhỏ hơn mức 65% góp phần thúc đảy tăng trưởng kinh tế, còn nếu tỷ lệ này vượt quá 65% thì nợ nước ngoài sẽ tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Từ đ ấy cho thấy, gia tăng nợ nước ngoài hiện nay của nước ta có thể chưa phải là quá nghiêm trọng. Tuy nhiên để đạt được hiệu quả cao khi sử dụng nguồn lực này chúng ta cần nghiêm túc và thận trọng. K hả năng chi trả nợ nước ngoài nằm chung trong việc phân tích cán cân thanh toán, tức là cung cầu ngoại tệ. Cung gồm nguồn ngoại tệ từ kiều hối và viện trợ
  18. không hoàn lại, đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngo ài, còn cầu là để nhập siêu và trả nợ nước ngoài. Các chi tiêu nhỏ bé khác được bỏ qua. Theo Ngân hàng Á châu số dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vào năm 2009 là 16,8 tỷ USD. Như vậy Việt Nam hoàn toàn có khả năng chi trả trong năm này.Tuy vậy, dù có đ ủ dự trữ ngoại tệ, do nhu cầu nhập siêu lớn và việc điều hành kinh tế không hợp lý, đặc biệt là khi có lạm phát cao, vẫn có thể gây ra khủng hoảng thiếu ngoại tệ. Số dự trữ có thể nhanh chóng không còn nếu doanh nghiệp không mua nổi ngoại tệ trên thị trường. Lạm phát cao có tác dụng khuyến khích dân chúng và doanh nghiệp găm giữ ngoại tệ và vàng. H ạn chế mua ngoại tệ và phát lệnh kiểm soát giá ngoại tệ chính thức, càng làm việc găm giữ này tăng; không mua được ngoại tệ dân sẽ đổ xô mua vàng, nhập vàng để làm lời sẽ làm tăng thêm số ngoại tệ sẵn sàng cung ứng cho thị trường. Đây chính là nguyên nhân của tình hình rối loạn tài chính những tháng cuối năm 2010. Vấn đề là giải quyết nguyên nhân gây ra lạm phát hiện nay. Mà nguyên nhân chính là chi tiêu và đầu tư quá m ức của khu vực nhà nước và do đó đưa đ ến việc tăng tín dụng và phát hành tiền quá mức. Giải quyết vấn đề này có thể góp phần giải quyết được vấn đề chi trả nợ nước ngoài cho Việt Nam, giảm gánh nặng nợ trong tương lai. Từ thực trạng trên ta có thể thấy rõ vấn đ ề vay nợ nước ngoài và sử dụng vay nợ nước ngoài còn nhiều hạn chế, chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn cho nền kinh tế trong tương lai.  Một số rủi ro hiện nay Việt Nam đang phải đố i mặt:  Các khoản vay ODA Rủi ro nằm ở chỗ là một phần không nhỏ nợ công của Việt Nam hiện nay là bằng đồng Yên, kho ảng trên dưới 30%. Trong khi đó tỷ giá đồng Yên rất dao động, nếu đồng Yên cứ lên giá như hiện nay thì rất b ất lợi cho nước ta dù lãi suất thấp. - Đồ ng yên lên giá khiến gánh nặng trả nợ của các nước đi vay như Việt Nam thêm nặng - Vào năm ngoái Nhật Bản nắm hơn 40% kho ản mà Việt Nam vay nợ nước ngoài với ODA chiếm khoảng ba phần tư.  Rủi ro thứ hai liên quan đến việc bảo lãnh vay không chỉ cho các Tập đoàn nhà nước mà còn là tư nhân thời gian qua, dù là nợ tư nhân, nhưng khi đổ vỡ lớn xảy ra thì Chính phủ cũng phải nhảy vào can thiệp, vì vậy nợ công cũng phải nhìn trong tổng nợ quốc gia.
  19.  Rủi ro thứ ba là mặc dù nợ ngắn hạn so với tổng nợ chúng ta thấp, chỉ vào khoảng 6-7 tỷ U SD nhưng tỷ lệ nợ ngắn hạn trên d ự trữ ngo ại tệ đang tăng lên. III. Nguyên nhân & giải pháp. 1. Nguyên nhân. 1.1. yếu tố lịch sử. Quản lý nợ nước ngoài do nền kinh tế thì trường chỉ mới được triển khia ở nước ta từ những năm 1995, khi mà các dự án vay nợ ODA của các ngân hàng đa phương lớn bắt đàu giải ngân đáng kể. Kinh nghiệm và thực tiễn quản lý nợ nước ngoài trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam chưa có nhiều và hệ thống quản lý nợ nước ngoài còn đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện. Thêm vào đó, về nhận thức vẫn còn tồn tại cách hiểu chưa đúng thực chất về nợ ODA. Quan niệm ODA như các khoản viện trợ không hoàn lại nên không tính toán kỹ khả năng hoàn vốn dẫn đến lãng phí và tham nhũng. 1.2. Thiếu hụt kinh nghiệm quản lý nợ. Cho đến nay, vay nợ thương mại nước ngoài của Việt Nam cũng có rất ít, do vậy kinh nghiệm quản lý nợ thương mại còn khá hạn chế.Nhiều phương pháp phân tích các chỉ số,các mô hình nợ, quy trình thu thập số liệu và báo cáo hệ thống tổ chức...đ ều là mới. Quá trình học hỏi tiếp thu kiến thức và kinh nghiệm cũng như xây dựng thể chế và cơ chế quản lý đòi hỏi thời gian và kinh nghiệm. Một số biẻu hiện kém thích ứng với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong cách thức quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam có thể nói là tất yếu. 1.3. Nhiều văn bản cùng điều chỉnh một đối tượng quản lý. Phân tích về tồ n tại trong khuôn khổ tổ chức quản lý nợ cho thấy việc phân công trách nhiệm quản lý còn nhiều trùng lặp và mâu thuẫn trong các văn bản pháp quy cũng như trong thực tiễn thực hành các quy định. Nguyên nhân của các sự việc trên là do có nhièu văn bản cùng điều chỉnh một đối tượng quản lý. Một nguyên nhân sâu xa hơn nằm trong phân chia quyền lực của các cơ quan Chính phủ, trong đó những “tồ n tại lịch sử” rất khó thay đổi nếu không có quyết định chặt chẽ ở cấp trên. 1.4.thiếu hụt đ ội ngũ cán bộ chuyên môn. Sự thiếu hụt về đội ngũ cán bộ chuyên môn là một trong những nguyên nhân đáng kể dẫn đến những hạn chế của hệ thống quản lý nợ quốc gia. Trước đây ngành Giáo dục Việt Nam chưa đào tạo chuyên ngành quản lý nợ nước ngoài và các chuyên ngành tài chính quốc tế dù đã được tổ chức đào tạo nhưng trên thực tế chưa đu cập
  20. nhật và kỹ năng quản lý nợ nước ngoài. Đội ngũ cán bộ của các cơ quan quản lý nợ nước ngoài chủ yếu vừa họ c vừa làm, các khóa đào tạo và tập huấn ngắn hạn chủ yếu do các dự án ODA cung cấp, không thể đủ đ ể giúp hình thành một lực lượng chuyên gia đảm bảo thu thập thông tin, phân tích và dự báo cũng như tổ chức các hoạt đọng nghiệp vụ mộ t cách thích đáng. 1.5. Hệ thống và quy trình kiểm định các dự án đầu tư còn yếu kém. Quản lý nợ nước ngoài bền vững có liên quan rất chặt chẽ với việc thẩm định và đảm bảo hiệu quả đầu tư. Từ p hương diện này, những điểm yếu của hệ thống và quy trình thẩm định, quản lý các dự án đầu tư, vố n đã là thực tiễn nhiều năm ở nước ta, đ ã có tác độ ng đến công tác quản lý nợ nước ngoài. Nguồn vố n vay nước ngoài trên thực tế cũng được phân bổ cho các chương trình, dự án ưu tiên như nguồn vốn ngân sách. Bởi vậy để nâng cao hiệu quả quản lý nợ nước ngoài trong dài hạn thì cái gốc cũng phải nâng cao hiệu quả đầu tư công cộng nói chung. 1.6. Ứng dụng công nghệ thông tin còn yếu kém. Phần mềm quản lý nợ nước ngoài đang sử d ụng tại Bộ TC và NHNN chưa được hỗ trợ đ ầy đủ các ứng d ụng như chuẩn tiếng việt Unicode, chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử... Việc ứng dụng công nghệ thông tin ở cấp địa phương còn yếu hơn nhiều, yếu cả về trang bị hệ thống máy tính, phần mềm quản lý và năng lực chuyên môn của cán bộ. 2. Giải pháp. 2.1. Các giả i pháp đảm bảo khả năng tiếp nhận nợ vay nước ngoài. a, Đảm bảo tăng trưởng ổn đ ịnh và bền vững. Để đảm bảo an toàn tín dụng, nèn kinh tế phải có tăng trưởng kinh tế cao để đảm bảo lãi vay nợ không vượt quá khả năng sinh lời của nó. Ở nước ta trong những năm gần đây, m ặc dù mức GDP vẫn tăng, nhưng hệ số ICOR lại tăng liên tục cho thấy hiệu quả sử dụng vốn thấp. Để đạt được hệ số ICOR=4 thì trong tương lai ta phải nâng cao tố c độ tăng trưởng khi vẫn giảm được tỉ lệ đ ầu tư/GDP. Điều này có nghĩa là vẫn gia tăng mức đầu tư trong đó m ức tăng GDP phải nhanh hơn. Hay nói cách khác, ta phải mở rộng quy mô nền kinh tế mộ t cách có hiệu quả. b. Lựa chọn danh mục vay nợ hợp lý. Nhằm đảm bảo cơ cấu nợ bền vững, cần đánh giá cẩn thận từng món vay mới, đặc biệt quan tâm đến việc duy trì cơ cấu nợ theo thời gian hợp lý.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2