intTypePromotion=1
zunia.vn Tuyển sinh 2024 dành cho Gen-Z zunia.vn zunia.vn
ADSENSE

Thái độ về phòng chống sốt xuất huyết dengue của người dân xã Vĩnh Phú và huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

142
lượt xem
10
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài này được tiến hành nhằm xác định tỉ lệ người dân tại xã Vĩnh Phú và huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương có thái độ đúng về phòng chống bệnh sốt xuất huyết dengue và các yếu tố liên quan.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thái độ về phòng chống sốt xuất huyết dengue của người dân xã Vĩnh Phú và huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> THÁI ĐỘ VỀ PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE<br /> CỦA NGƯỜI DÂN XÃ VĨNH PHÚ VÀ HUYỆN TÂN UYÊN<br /> TỈNH BÌNH DƯƠNG<br /> Trương Thị Thẩm*, Trần Thanh Kỳ**, Nguyễn Đỗ Nguyên***<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Đặt vấn đề: Tỉ lệ mắc sốt xuất huyết dengue trong năm năm qua vẫn chưa giảm ở Vĩnh Phú và Tân<br /> Uyên, có thể do thực hành không đúng của người dân về kiểm soát muỗi và lăng quăng. Để có thực hành<br /> đúng cần có nhận thức đúng và thái độ tích cực.<br /> Mục tiêu: Xác định tỉ lệ người dân tại xã Vĩnh Phú và huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương có thái độ<br /> đúng về phòng chống bệnh sốt xuất huyết dengue và các yếu tố liên quan.<br /> Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 604 chủ hộ gia đình thường trú tại xã Vĩnh Phú và 600<br /> chủ hộ gia đình tại huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, được chọn bằng kỹ thuật mẫu cụm hai bậc với xác<br /> suất tỉ lệ theo cỡ dân số. Dữ kiện được thu thập với một bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp về kiến thức, thái<br /> độ, và thực hành phòng chống sốt xuất huyết dengue. Tỉ lệ kiến thức và thái độ được phân bố theo đặc tính<br /> mẫu. Hồi qui logistic được sử dụng để xác định những yếu tố liên quan với thái độ, và mức độ kết hợp<br /> được ước lượng với tỉ số số chênh, và khoảng tin cậy 95% của tỉ số số chênh.<br /> Kết quả: Trên một nửa dân số nghiên cứu biết được thời gian muỗi vằn đốt người là cả ngày lẫn đêm,<br /> tuy nhiên, tỉ lệ biết đúng về nơi sinh sản của muỗi vằn còn rất thấp. Đa số người dân đều cho rằng nguyên<br /> nhân gây ra nhiều muỗi là do hàng xóm, nhưng đồng ý về trách nhiệm diệt muỗi và lăng quăng là của<br /> người dân. Khoảng 60% đối tượng chọn bình xịt muỗi là biện pháp kiểm soát muỗi, và 20% đến 37% đề<br /> nghị ngành y tế phun thuốc diệt muỗi. Những yếu tố liên quan với thái độ chung đúng là có kiến thức<br /> đúng, ở tại Tân Uyên, có việc làm phụ thuộc giờ hành chính, và có trình độ học vấn ≥ cấp 3.<br /> Kết luận: Giáo dục sức khỏe cần nhấn mạnh hơn về những nơi muỗi vằn đẻ trứng là nơi chứa nước<br /> trong, nhắm vào đối tượng ưu tiên là những người có trình độ học vấn thấp, và làm việc không phụ thuộc<br /> giờ hành chính.<br /> Từ khóa: sốt xuất huyết dengue, phòng ngừa, thái độ.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> ATTITUDES TOWARD PREVENTION OF DENGUE HEMORRAGIC FEVER AMONG PEOPLE<br /> LIVING AT VINH PHU VILLAGE AND TAN UYEN DISTRICT OF BINH DUONG PROVINCE<br /> Truong Thi Tham, Tran Thanh Ky, Nguyen Do Nguyen<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 - Supplement of No 1 - 2011: 183 - 187<br /> Background: In the last five years, the proportion of dengue hemorrhagic fever has not been decreased<br /> at Vinh Phu and Tan Uyen, probably due to improper practices in mosquito and larva control. To have a<br /> proper practice, ones need to have a correct awareness and a positive attitude.<br /> <br /> *<br /> <br /> Trạm y tế xã Vĩnh Phú, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương<br /> Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Bình Dương<br /> ***<br /> Bộ môn Dịch tễ, Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh<br /> Địa chỉ liên hệ: BS. Trương Thị Thẩm<br /> ĐT: 0913724080<br /> Email: tytvinhphu@yahoo.com.vn<br /> **<br /> <br /> Chuyên Đề Y tế Công cộng<br /> <br /> 185<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011<br /> <br /> Objectives: To determine the proportion of people having a positive attitude toward dengue<br /> hemorrhagic fever prevention, and factors associated with a positive attitude<br /> Methods: A cross-sectional study was conducted on 604 and 600 householders, respectively at Vinh<br /> Phu village and Tan Uyen district. Study subjects were randomly selected by a two-stage cluster sampling<br /> with probability proportionate to size, and directly interviewed about knowledge, attitudes, and practices<br /> concerning dengue hemorrhagic fever prevention. The proportion of a positive attitude was distributed by<br /> subject’s characteristics. Factors associated with overall positive attitude were estimated by adjusted odds<br /> ratio and the corresponding 95% confidence interval, using logistic regression.<br /> Results: Over half of study subjects knew that Aedes aegypti bites all day long, however, the<br /> proportion of correct knowledge about breeding sites was found very low. Most people claimed mosquitoes<br /> in their house were from neighborhood, but agreed that mosquito and larva control activities were their<br /> responsibility. Insecticide spray within household was chosen by 60% of the subjects as a mosquito control<br /> measure, but 20% to 37% still thought this had to be done by the government. People with a correct<br /> knowledge, resident in Tan Uyen, working dependently of office hours, and of high educational level were<br /> more likely to have a positive attitude.<br /> Conclusions: Health education should emphasize that larval habitats are reservoirs with clean water,<br /> and focus more on the people with low educational background or working independently of office hours.<br /> Key words: dengue hemorrhagic fever, prevention, attitudes.<br /> đình. Tỉ lệ mắc SXHD/100.000 dân tại xã Vĩnh<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Phú từ năm 2005 đến 2009 là 100,6; 200; 80,5;<br /> Hiện nay sốt xuất huyết dengue (SXHD)<br /> 420; 250 (6), và tại huyện Tân Uyên là 137,7;<br /> chưa có vắc xin phòng ngừa và cũng chưa có<br /> 189,7; 101,4; 288,8; 100,2 (5). Những dữ kiện<br /> thuốc điều trị đặc hiệu, do đó, diệt muỗi và<br /> này cho thấy tỉ lệ mắc vẫn chưa giảm, và dịch<br /> lăng quăng là trọng tâm của ngành y tế và cả<br /> vẫn tiếp tục xảy ra. Điều này có thể do nhiều<br /> cộng đồng trong công tác phòng chống(1).<br /> nguyên nhân, quan trọng nhất là thực hành<br /> Đánh giá tầm quan trọng của công tác phòng<br /> không đúng của người dân về kiểm soát muỗi<br /> chống SXHD, thủ tướng chính phủ đã có<br /> và lăng quăng. Để có thực hành đúng cần có<br /> quyết định số 196/1988/QĐ-TTg ngày<br /> nhận thức đúng và thái độ tích cực. Hai<br /> 10/10/1988 về việc bổ sung công tác phòng<br /> nghiên cứu khảo sát kiến thức, thái độ, và<br /> chống SXHD vào chương trình mục tiêu y tế<br /> thực hành về phòng chống SXHD được thực<br /> quốc gia, với mục tiêu chính là nâng cao nhận<br /> hiện tại xã Vĩnh Phú và huyện Tân Uyên năm<br /> thức của cộng đồng về phòng chống SXHD,<br /> 2010, và bài báo này mô tả thái độ của người<br /> và một hoạt động chính của chương trình là<br /> dân đối với những biện pháp kiểm soát muỗi<br /> truyền thông giáo dục sức khỏe. Mỗi địa<br /> trong phòng chống SXHD.<br /> phương đều thực hiện công tác phòng chống<br /> ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> SXHD và có điều chỉnh để phù hợp với điều<br /> kiện thực tế. Hàng năm tại xã Vĩnh Phú<br /> Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện<br /> (huyện Thuận An) cũng như tại các xã của<br /> trên 604 chủ hộ gia đình thường trú tại xã<br /> huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương, ngoài kênh<br /> Vĩnh Phú và 600 chủ hộ gia đình tại huyện<br /> truyền thông gián tiếp qua báo chí, đài phát<br /> Tân Uyên, tỉnh Bình Dương trong khoảng<br /> thanh, truyền hình, các xã đều có tổ chức các<br /> thời gian từ 01 tháng Sáu đến đến 01 tháng<br /> Tám năm 2010. Đối tượng nghiên cứu được<br /> buổi truyền thông lồng ghép, nói chuyện<br /> chọn bằng kỹ thuật mẫu cụm hai bậc với xác<br /> chuyên đề tại các trường học, các khu/ấp, xã,<br /> suất tỉ lệ theo cỡ dân số, và cụm là tổ dân phố<br /> hoặc vãng gia phát tờ rơi đến từng hộ gia<br /> (tại Vĩnh Phú), hoặc khu hay ấp (tại Tân<br /> <br /> 186<br /> <br /> Chuyên Đề Khoa học Cơ bản – Y tế Công cộng<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011<br /> Uyên). Đối tượng nghiên cứu là chủ hộ hoặc<br /> một người đại diện từ 18 tuổi trở lên (tại Tân<br /> Uyên), thường trú trên 6 tháng, và bị loại nếu<br /> vắng mặt vào thời điểm điều tra.<br /> Dữ kiện được thu thập với một bộ câu hỏi<br /> phỏng vấn trực tiếp về kiến thức, thái độ, và<br /> thực hành phòng chống SXHD. Đối tượng<br /> nghiên cứu được hỏi về trung gian truyền<br /> bệnh (là muỗi vằn), thời điểm muỗi vằn đốt<br /> trong ngày (cả ngày và đêm), những nơi muỗi<br /> đẻ trứng (những dụng cụ chứa nước sinh<br /> hoạt, bình bông bàn thờ, những vật phế thải<br /> có chưá nước quanh nhà). Kiến thức chung là<br /> đúng khi tất cả các kiến thức là đúng. Thái độ<br /> của người dân được khảo sát về nguyên nhân<br /> gây ra nhiều muỗi trong nhà (do chính mình,<br /> do hàng xóm, do tự nhiên), trách nhiệm diệt<br /> muỗi và lăng quăng (của nhà nước, của người<br /> dân), và sự lựa chọn một biện pháp kiểm soát<br /> muỗi và lăng quăng (ngủ mùng, dùng bình xịt<br /> muỗi, dùng nhang trừ muỗi, súc rửa vật chứa<br /> nước, loại bỏ vật phế thải, đề nghị y tế phun<br /> thuốc diệt muỗi). Thái độ chung là đúng khi<br /> tất cả các thái độ là đúng (trong nhà nhiều<br /> muỗi là do chính mình, trách nhiệm diệt muỗi<br /> và lăng quăng là của người dân, chọn biện<br /> pháp kiểm soát muỗi là súc rửa vật chứa<br /> nước, loại bỏ vật phế thải, và ngủ mùng để<br /> tránh muỗi). Những biến số nền gồm nhóm<br /> tuổi ( Cấp 3<br /> Việc làm không phụ thuộc giờ<br /> hành chính<br /> <br /> 183 (30)<br /> 253 (42)<br /> 168 (28)<br /> 522 (86)<br /> <br /> 255 (43)<br /> 254 (42)<br /> 90 (15)<br /> 468 (78)<br /> <br /> Bảng 2: Kiến thức về trung gian truyền bệnh, tần<br /> số và (%)<br /> Kiến thức<br /> <br /> Vĩnh Phú<br /> (N=604)<br /> <br /> SXHD do muỗi truyền<br /> <br /> 558 (93)<br /> <br /> Tân Uyên<br /> (N=600)<br /> 551 (92)<br /> <br /> Muỗi vằn truyền bệnh SXHD<br /> <br /> 433 (72)<br /> <br /> 469 (78)<br /> <br /> Muỗi vằn đốt cả ngày và đêm<br /> <br /> 328 (55)<br /> <br /> 338 (56)<br /> <br /> Biết những nơi muỗi đẻ<br /> <br /> 174 (29)<br /> <br /> 157 (9)<br /> <br /> Kiến thức chung đúng<br /> <br /> 267 (45)<br /> <br /> 225 (38)<br /> <br /> Bảng 3: Thái độ đối với những biện pháp kiểm soát<br /> muỗi, tần số và (%)<br /> Thái độ<br /> <br /> Vĩnh Phú Tân Uyên<br /> (N=604)<br /> (N=600)<br /> <br /> Về nguyên nhân gây nhiều<br /> muỗi trong nhà<br /> Do chính mình<br /> <br /> 31 (5)<br /> <br /> 67 (11)<br /> <br /> Do hàng xóm<br /> <br /> 542 (91)<br /> <br /> 451 (75)<br /> <br /> Do tự nhiên<br /> <br /> 24 (4)<br /> <br /> 82 (13)<br /> <br /> Về trách nhiệm diệt muỗi và<br /> lăng quăng<br /> Của nhà nước<br /> <br /> 31 (5)<br /> <br /> 67 (11)<br /> <br /> Của người dân<br /> <br /> 542 (90)<br /> <br /> 451 (75)<br /> <br /> Khác<br /> <br /> 31 (5)<br /> <br /> 82 (13)<br /> <br /> Chọn lựa biện pháp kiểm soát<br /> muỗi và tránh muỗi<br /> Đề nghị y tế phun thuốc<br /> <br /> 117 (19)<br /> <br /> 222 (37)<br /> <br /> Dùng bình xịt<br /> <br /> 361 (60)<br /> <br /> 357 (59)<br /> <br /> Dùng nhang muỗi<br /> <br /> 235 (39)<br /> <br /> 288 (48)<br /> <br /> Súc rửa vật chứa nước<br /> <br /> 237 (39)<br /> <br /> 276 (46)<br /> <br /> Loại bỏ vật phế thải<br /> <br /> 198 (33)<br /> <br /> 211 (35)<br /> <br /> Ngủ mùng<br /> <br /> 446 (74)<br /> <br /> 518 (86)<br /> <br /> Thái độ chung đúng<br /> <br /> 167 (28)<br /> <br /> 205 (34)<br /> <br /> Bảng 4: Những yếu tố liên quan với thái độ<br /> chung đúng<br /> <br /> KẾT QUẢ<br /> Bảng 1: Những đặc tính của mẫu nghiên cứu, tần<br /> số và (%)<br /> Đặc tính<br /> Tuổi > 40<br /> Nữ<br /> <br /> Vĩnh Phú<br /> (N=604)<br /> 347 (58)<br /> 376 (62)<br /> <br /> Chuyên Đề Y tế Công cộng<br /> <br /> Tân Uyên<br /> (N=600)<br /> 433 (73)<br /> 349 (58)<br /> <br /> Yếu tố<br /> Kiến thức đúng<br /> <br /> OR điều chỉnh<br /> p<br /> (KTC 95%)<br /> 2,1 (1,7-2,7) 0,000<br /> <br /> Ở Tân Uyên<br /> <br /> 1,4 (1,1-1,9)<br /> <br /> 0,005<br /> <br /> Tuổi > 40<br /> <br /> 1,2 (0,8-1,5)<br /> <br /> 0,2<br /> <br /> 187<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011<br /> <br /> Nam<br /> <br /> OR điều chỉnh<br /> (KTC 95%)<br /> 0,8 (0,7-1,1)<br /> <br /> 0,3<br /> <br /> Học vấn cấp 2<br /> <br /> 1,2 (0,8-1,6)<br /> <br /> 0,2<br /> <br /> Học vấn ≥ cấp 3<br /> <br /> 1,5 (1,1-2,2)<br /> <br /> 0,01<br /> <br /> Việc làm phụ thuộc giờ hành<br /> chính<br /> <br /> 1,4 (1,0-2,0)<br /> <br /> 0,03<br /> <br /> Yếu tố<br /> <br /> p<br /> <br /> Đối tượng nghiên cứu đa số là nữ, ≥ 40<br /> tuổi, trình độ học vấn từ cấp 2 trở xuống, và<br /> có việc làm không phụ thuộc giờ hành chính<br /> (bảng 1). Hầu hết biết bệnh do muỗi truyền và<br /> là muỗi vằn (bảng 2). Trên một nữa dân số<br /> nghiên cứu biết được thời gian muỗi vằn đốt<br /> người là cả ngày lẫn đêm, tuy nhiên, tỉ lệ biết<br /> đúng về nơi sinh sản của muỗi vằn tại hai địa<br /> điểm nghiên cứu còn rất thấp, đặc biệt là tại<br /> huyện Tân Uyên. Kiến thức đúng chung tại<br /> Vĩnh Phú là 45%, tại Tân Uyên là 38%, và là<br /> 41% chung ở cả hai điểm. Về thái độ, đa số<br /> người dân ở huyện Tân Uyên và xã Vĩnh Phú<br /> đều cho rằng nguyên nhân gây ra nhiều muỗi<br /> là do hàng xóm. Đa số người dân đồng ý về<br /> trách nhiệm diệt muỗi và lăng quăng là của<br /> người dân. Khoảng 60% đối tượng chọn biện<br /> pháp kiểm soát muỗi là sử dụng bình xịt<br /> muỗi, và khoảng ba phần tư chọn biện pháp<br /> ngủ mùng để tránh muỗi đốt (bảng 3). Vẫn<br /> còn 20% đến 37% đối tượng đề nghị ngành y<br /> tế phun thuốc diệt muỗi. Thái độ chung đúng<br /> ở hai điểm là 31%, và là 28% và 34%, tương<br /> ứng riêng tại Vĩnh Phú và Tân Uyên. Những<br /> yếu tố liên quan với thái độ chung đúng là có<br /> kiến thức đúng, ở tại Tân Uyên, có việc làm<br /> phụ thuộc giờ hành chính. Thái độ đúng có<br /> khuynh hướng tăng theo trình độ học vấn, và<br /> người có trình độ học vấn ≥ cấp 3 có thái độ<br /> đúng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với<br /> người có trình độ học vấn cấp 1 (bảng 4)<br /> <br /> BÀN LUẬN<br /> Thu thập dữ kiện được thực hiện trong giờ<br /> hành chính nên đa số những đối tượng được<br /> chọn vào nghiên cứu là phụ nữ tuổi ≥40, làm<br /> việc không phụ thuộc giờ hành chính. Trình<br /> độ học vấn cấp 2 cũng là phù hợp ở những<br /> <br /> 188<br /> <br /> người nữ lớn tuổi và làm những việc tự do<br /> không lệ thuộc giờ hành chính như nội trợ<br /> hoặc buôn bán nhỏ. Tỉ lệ có kiến thức đúng về<br /> trung gian truyền bệnh là khá cao và tương<br /> đương ở hai điểm nghiên cứu. Tuy nhiên, đa<br /> số người dân lại không biết nơi muỗi vằn sinh<br /> đẻ là nơi có nước trong mà họ còn cho rằng<br /> muỗi thường đẻ ở những nơi ao tù, nước<br /> đọng, cống rãnh. Kết quả này tương tự như<br /> kết quả trong nghiên cứu của Phạm Thị Yến<br /> tại thị xã Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương<br /> (2008)(4), và một nghiên cứu tại Đài Loan<br /> (2006) (2). Hầu hết người dân đều biết muỗi đẻ<br /> trứng ở những vật có chứa nước, và từ trước<br /> đến giờ những nội dung giáo dục cho người<br /> dân cũng có chỉ ra cụ thể những nơi mà muỗi<br /> vằn đẻ trứng là những vật chứa nước sinh<br /> hoạt, bình bông, chén nước chống kiến dưới<br /> chân tủ thức ăn, và những vật phế thải có<br /> chưá nước xung quanh nhà. Tuy nhiên, có lẻ<br /> cần nhấn mạnh hơn nữa một đặc tính chung<br /> của những vật đó là nước bên trong của<br /> chúng là nước trong, để phân biệt với những<br /> vật, những nơi chứa nước khác. Thông tin này<br /> sẽ là chìa khoá giúp người dân có thể tự hình<br /> dung ra những vật nào chứa nước trong và<br /> suy ra rằng đó là những nơi mà muỗi vằn đẻ<br /> trứng.<br /> <br /> Thái độ với việc kiểm soát muỗi<br /> Một tỉ lệ rất cao người dân tại hai điểm<br /> nghiên cứu cho rằng muỗi có nhiều trong nhà<br /> là do hàng xóm. Kết quả này khác với kết quả<br /> trong nghiên cứu của Phạm Thị Yến (4),<br /> nhưng tương tự với kết quả của một nghiên<br /> cứu tại Puerto Rico năm 2001 (3). Đây là một<br /> thông tin không khích lệ cho những hoạt<br /> động kiểm soát muỗi và lăng quăng tại Thuận<br /> An và Tân Uyên. Ý kiến này có thể xuất phát<br /> từ những người có kiến thức, có thực hành tốt<br /> những biện pháp kiểm soát muỗi nhưng xung<br /> quanh họ vẫn còn những hộ gia đình chưa<br /> làm tốt. Dù sao, với sự suy nghĩ đó, người<br /> dân sẽ kém tích cực chủ động trong những<br /> hoạt động kiểm soát muỗi và lăng quăng.<br /> Những nghiên cứu trong tương lai cần tìm<br /> <br /> Chuyên Đề Khoa học Cơ bản – Y tế Công cộng<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011<br /> hiểu sâu hơn những khía cạnh này hơn là<br /> khảo sát những thái độ rất chung. Mặc dù<br /> người dân không nhận trách nhiệm nguyên<br /> nhân gây ra nhiều muỗi là do chính mình,<br /> nhưng hầu hết đều đồng ý với trách nhiệm<br /> diệt lăng quăng là của người dân. Đây là một<br /> tín hiệu đáng khích lệ vì người dân đã thấy<br /> được trách nhiệm diệt muỗi và lăng quăng là<br /> trách nhiệm của mình chứ không phải của<br /> nhà nước hay của tổ chức, cá nhân nào khác<br /> và tỉ lệ người dân lựa chọn biện pháp diệt<br /> muỗi bằng cách đề nghị y tế phun hóa chất<br /> diệt muỗi cũng thấp. Tuy nhiên, vẫn cần tìm<br /> hiểu thêm về ý kiến này, vì sẽ không tốt nếu<br /> các đối tượng đồng ý việc kiểm soát muỗi là<br /> trách nhiệm của người dân, nhưng là trách<br /> nhiệm của những người hàng xóm thay vì<br /> chính bản thân họ cũng phải tham gia. Đối<br /> với việc chọn lựa các biện pháp kiểm soát<br /> muỗi, đa số chọn bình xịt muỗi. Đây là một<br /> phương tiện sẵn có, không mắc tiền, dễ sử<br /> dụng tại gia đình. Tuy nhiên hiệu quả của hoá<br /> chất không có tính duy trì, và không tác động<br /> vào lăng quăng mà chỉ với muỗi trưởng<br /> thành. Cũng chính vì tỉ lệ người dân có kiến<br /> thức đúng về nơi sinh sản của muỗi vằn chưa<br /> cao nên các biện pháp súc rửa dụng cụ chứa<br /> nước hàng tuần, loại bỏ những vật phế thải có<br /> chứa nước chưa được người dân quan tâm<br /> nhiều.<br /> Thái độ tích cực là hệ quả tất yếu của kiến<br /> thức đúng và trình độ học vấn phổ thông cao<br /> (cấp 3). Những người có việc làm phụ thuộc<br /> giờ hành chính, thí dụ, trong cơ quan, xí<br /> nghiệp thường có tính tổ chức và tinh thần<br /> trách nhiệm cao hơn những người làm việc<br /> không phụ thuộc giờ hành chính, do đó, họ<br /> dễ có thái độ tốt hơn. Tỉ lệ có kiến thức đúng<br /> ở Tân Uyên là thấp hơn so với ở Vĩnh Phú,<br /> nhưng tỉ lệ có thái độ tích cực ở Tân Uyên lại<br /> cao hơn so với Vĩnh Phú; bên cạnh đó, Vĩnh<br /> Phú lại là một xã điểm trong chương trình<br /> phòng chống SXHD. Sự khác biệt này có thể<br /> được giải thích do Tân Uyên là một huyện mà<br /> mức độ đô thị hoá còn chậm so với Vĩnh Phú,<br /> <br /> Chuyên Đề Y tế Công cộng<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> đa số dân là người địa phương, không có<br /> nhiều người nhập cư như Vĩnh Phú. Người<br /> nhập cư do bận rộn trong việc mưu sinh sẽ ít<br /> quan tâm hơn với những hoạt động kiểm<br /> soát muỗi.<br /> <br /> Những điểm mạnh và hạn chế của đề tài<br /> Nghiên cứu có cỡ mẫu đủ lớn. Thu thập<br /> dữ kiện được tiến hành trong giờ hành chính<br /> nên sai lệch chọn lựa có thể xảy ra khi chủ hộ<br /> gia đình vắng mặt khi tiến hành phỏng vấn.<br /> Những định nghĩa biến số quá chặt khi đánh<br /> giá thái độ chung đã làm giảm độ lớn của kết<br /> quả. Nhiều nghiên cứu trước chỉ khảo sát thái<br /> độ chấp nhận một biện pháp kiểm soát muỗi<br /> vì biện pháp đó có tác dụng, thí dụ, một câu<br /> hỏi về thái độ là “Ông/bà có đồng ý rằng nên<br /> cho trẻ ngủ mùng để tránh bị bệnh sốt xuất<br /> huyết hay không?” Một câu hỏi như thế sẽ dễ<br /> có câu trả lời đồng ý. Những nội dung khảo<br /> sát về thái độ trong nghiên cứu này tập trung<br /> vào ý thức trách nhiệm của người dân trong<br /> việc thực hiện những hoạt động kiểm soát<br /> muỗi, từ đó sẽ cho những cơ sở hợp lý để xác<br /> định những điều cần làm của các chương<br /> trình can thiệp. Những đề xuất từ nghiên cứu<br /> là nội dung giáo dục sức khỏe cần nhấn mạnh<br /> hơn về những nơi muỗi vằn đẻ trứng là nơi<br /> chứa nước trong, nhắm vào đối tượng ưu tiên<br /> là những người có trình độ học vấn thấp, và<br /> làm việc không phụ thuộc giờ hành chính.<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 1.<br /> <br /> 2.<br /> 3.<br /> 4.<br /> <br /> 5.<br /> <br /> 6.<br /> <br /> Bộ Y tế (2006). Giám sát, chẩn đoán và điều trị bệnh sốt<br /> dengue/Sốt xuất huyết dengue. Nhà xuất bản Y học Hà Nội.<br /> 11-12.<br /> Trung tâm y tế huyện Tân Uyên. Số liệu thống kê từ năm<br /> 2005, 2006, 2007, 2008, 2009<br /> Trạm y tế Vĩnh Phú. Số liệu thống kê năm 2005, 2006, 2007,<br /> 2008, 2009<br /> Pai HH, Hong YJ, Hsu EL (2006). Impact of a short-term<br /> community-based cleanliness campaign on the sources of<br /> dengue vectors: an entomological and human behavior<br /> study. J Environ Health. 68(6):35-9.<br /> Pérez-Guerra CL, Seda H, Garcia-Rivera EJ, Clark GG<br /> (2005). Knowledge and attitudes in Puerto Rico concerning<br /> dengue prevention. Rev Panam Salud Publica; 17(4):243<br /> Phạm Thị Yến, Nguyễn Đỗ Nguyên (2009). Thái độ đối với<br /> việc kiểm soát muỗi truyền sốt xuất huyết dengue của cộng<br /> đồng dân cư thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương năm<br /> 2008. Y học TP. HCM. Tập 13, Phụ bản số1:48-53.<br /> <br /> 189<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2